Thứ Tư, ngày 28 tháng 9 năm 2016

'xôn xao cơ hội đọat giải nobel văn chương của ý nhi / việtnam' / bài viết: thư vĩ -- (http://thethaovanhoa.vn/

tựa chính,' xôn xao cơ hội đoạt giải Nobel văn học của Ý Nhi/ Việtnam '
http://theothaovanhoa.vn/


                                              ý nhi  (bên phải)  [i.e. hoàng thị ý nhi 1944-  ]
                                                                     nhận giải thưởng CIKADA/ Thụy điển 2015.
                                                                                (ảnh đăng kèm bài) 

                     'xôn xao cơ hi đot gii nobel văn chương
                                ca ý nhi/ vitnam'
                                                           bài viết: thư vĩ

(Thethaovanhoa.vn) -- Cuối năm ngoái, nhà thơ Hoàng thị Ý Nhi [Ý Nhi], cũng trở thanh người Việt nam đầu tiên được Thụy điển trao giải thưởng cao quý CIKADA -- lấy theo tên tập thơ của nhà thơ đoạt giải Nobel Harry Martinson.

Chỉ còn hơn một tuần nữa, kết quả Nobel [văn chương] 2016 sẽ bắt đầu lần lượt công bố. Nobel văn [chương] hiện là duy nhất chưa ấn định ngày trao, nhưng đang thu hút nhiều sự chú ý nhất của dư luận + các sàn cá cược.

Theo thông lệ hàng năm, viện Hàn lâm khoa học Hoàng gia Thụy điển sẽ gửi đề nghị đề cử các ứng viên cho giải Nobel văn chương.

 Những đề cử này phải được gửi tới trước ngày 1 tháng 2 [hàng năm]; sau đó, được Ủy ban Nobel kiểm tra kỹ lưỡng. Tới tháng 4, danh sách đề cử rút gọn xuống, còn 20 ứng viên --và, tới tháng 5, thì chỉ còn 5.  Các tháng tiếp theo, viện sĩ sẽ dành thời gian; để nghiên cứu tác phẩm của các tác giả, trong danh sách rút gọn. 

Tháng 10 tới, các thành viên viện Hàn lâm sẻ bỏ phiếu; và, ứng viên nào nhận được trên 1/2 số phiếu bầu; sẽ là chủ nhân giải Nobel văn chương.

Như vậy, vào thời điểm này; ai là người đoạt giải Nobel văn chương 2016, vẫn chưa được ấn định.

 Không những tên người thắng cuộc vẫn còn là ẩn số; mà ngay cả danh sách rút gọn cũng trong vòng bí mật. 

 Quy định của giải Nobel: nêu rõ việc đề cử + thảo luận về các ứng cử viên, phải được giữ kín trong 50 năm tới.

Tuy nhiên, đôi khi các tác giả cũng được rò rỉ trước về thông tin mình được đề cử.  Bên cạnh đó,dù tiêu chí chọn lựa của viện Hàn lâm không đươc công bố ; nhưng người trong giới vẫn có thể tự đưa ra các nhận định tương đối sát với kết quả.

Theo cây viết Mary Morose; năm nay danh sách 56 tác giả -- bà dự đoán: bên cạnh rất nhiều nhân vật 'nặng ký'-- nhà thơ Hoàng thị Ý Nhi/ Việtnam, cũng có cơ hội nhận giải Nobel văn chương; một phần, bởi bà mới được Thụy điển trao giải CIKADA, hồi tháng 11, năm 2015.

Ban giám khảo khi đó : ca ngợi thơ của bà 'bảo vệ sự thiêng liêng+ thanh tịnh cuộc sống con người'.  Điều này tới từ kinh nghiệm sống của bà, trong cuộc chiến tranh Việtnam; khi bà hoạt động như một nhà báo.  Bà được đánh giá là: 'một trong những nhà thơ hậu chiến lớn nhất Việtnam'. 

Thơ của bà lay động bởi ngôn từ tinh tế, cảm xúc sâu lắng, phảng phất nỗi buồn về thân phận người phụ nữ trong chiến tranh, về sự cô đơn mất mát + thiếu vắng tình yêu.  Có thể thấy, giữa Hoàng thị Ý Nhi và nữ văn sĩ đoạt giải Nobel văn chương 2015 Svetlana Alexievitch có nhiều điểm tương đồng.

Thơ của tác giả Ý Nhi đã được dịch ra nhiều ngôn ngữ: tiếng Đức, Tây ban nha, Pháp, Nga, Anh quốc -- và, nhiều khả năng sẽ được dịch sang tiếng Thụy điển. 

Ngoài ra, bắt đầu từ năm 2015, lần đầu cức tổng thư ký viện Hàn lâm Thụy điển, được trao vào tay bà Sara Danius. 

 với sự thay đổi này, kết quả Nobel 2016 sẽ có những bất ngờ. 

 Ở thời điểm hiện tại, theo 'nhà cái' Ladbrokes, người đứng đầu danh sách dự đoán cho giải Nobel văn chương 2016: 'nhà văn Nhật bản Haruki Murakami với tỷ lệ 5/1; theo sau là nhà văn Ngugi Wa Thiong'o (Kenya); và nhà văn Mỹ, Philip Roth. (8/1.)

Nhà thơ Hoàng thị Ý Nhi, sinh 1944 tại Hội an, tỉnh Quảng nam/ Trung bộ; trong một gia đình có truyền thống Nho học. Bà lớn lên tại Hànội, tốt nghiệp cử nhân khoa ngữ văn , Đại học tổng hợp, năm 1968.

Nhà thơ Ý Nhi đã cho xuất bản hơn 10 tập thơ; ngoài ra, bà cũng là [tác giả] một tập truyện ngắn đặc sắc -- và, là một trong ít nhà thơ được công chúng đón nhận rộng rãi. 

 Hiện bà sống tại tp. HCM. ...

  THƯ VĨ


   http://thethaovanhoa.vn/van-hoa-giai-tri/xon-xao-co-hoi-doat-giai-nobel-van-hoc-cua-nha-tho-y-nhi-n20160923254442139.htm


Chủ Nhật, ngày 25 tháng 9 năm 2016

cái muỗng: một truyện ngắn tuyệt hay của văn quang -- http://truongxuabancu.fpb.yuku.com/topic/

cái muỗng: một truyện ngắn tuyệt hay của văn quang
blog truongxuabancu.fpb.yuku.com/topic/


                                                          

   văn quang [i.e. nguyễn quang tuyến 1933-        ] 
(ảnh: Tp/ 2016)

Văn Quang là tên thật nhà văn Nguyễn quang Tuyến, sinh
  ở tỉnh Thái bình [Bắc bộ]; được biết đến qua một số tiểu thuyết+
             một số tác phẩm khác. Gia nhập quân đội Quốc gia Việt nam [tiền thân
     quân lực VNCH] , tốt nghiệp khoá 4, sĩ quan trừ bị Trường Bộ binh,
       làm việc cho ngành Chiến tranh chính trị; từng là quản đốc đài Tiếng
                nói quân đội VNCH cuối cùng (tới 30/4/1975), cấp bậc trung tá. Trong số 
               những phóng sự tiểu thuyết+ tiểu thuyết của ông, có 4 tác phẩm chuyển
                 thể thành phim: Chân trời tím + Ngàn năm mây bay+ Đời chưa trang điểm
                        +Tiếng hát học trò.   Sau 30/4/ 1975; ông bị tâp trung cải tạo, hơn 12 năm tù . 
                          Tuy không còn cầm bút chuyên nghiệp như trước 1975; tuy nhiên  loạt phóng sự
                   'Lẩm cẩm Saigon thiên hạ sự'' + ' Lên đời' + feuilleton đăng trên các báo ở  
                         Hoa Kỳ, Úc châu.  Một số tác phẩm đó được in lại thành sách phát hành  ở Mỹ.
Năm 2009, ông được tạp chí Khởi hành (California) trao tặng
      'Giải văn chương toàn sự nghiệp'. [Nữ văn sĩ Nguyễn thị Ngọc Dung ,
                  người vợ đầu tiên đã ly di với ông ở Saigon trước 1975, lập gia đình với nhà
             ngoại giao Mỹ; hiện là một nữ tác giả ở Mỹ, có nhiều tiểu thuyết, hồi ký 
           tiếng việt xuất bản ở  Hoa Kỳ. 
         Hiện nay, nhà văn Văn Quang sống ở tp. HCM]. 
(theo WIKIPEDIA)

                                  cái mung
                                                               truyện ngắn:  văn quang

1
Tôi không nhớ rõ năm thứ mấy, chúng tôi đi 'học tập cải tạo';  chỉ biết rằng đã có những người' quen' với những ngày tháng cực khổ, dài lê thê trong những căn nhà giam; được 'xây dựng' bằng đủ thứ kiểu; giữa những vùng rừng núi âm u.  Ở Sơn la, thì 'trại' được lảm trên những nhà tù từ thời xa xưa; chỉ còn lại những cái nền nhà lỗ chỗ; người ta dựng vách đất trộn rơm, mái lợp bằng các kiểu lá rừng, miễn sao che kín được khung trời.

Nơi này xưa kia, Pháp dùng để giam giữ tù chính trị; rồi một thời gian sau, Việtnam giam những người tù Thái Lan; trong chiến tranh, đã có khi người ta dùng làm 'công binh xưởng', chế tạo lựu đạn.  Vì thế, thỉnh thoảng chúng tôi nhặt được một cái vỏ lựu đạn ở đâu đó; quanh khu vực này.

 Ở Vĩnh Phú thì nhà tranh, vách đất; ngoại trừ có một khu, người ta gọi là 'khu biệt kích'; gồm vài căn nhà xây dựng kiên cố, bằng gạch, lợp tôn xi-măng.  Chúng tôi được học tập cải tạo trong dãy nhà này. Cũng nghe người ta nói lại : 'khu này trước kia dùng để giam giữ những người lính biệt kích, đã từng nhảy dù ra ngoài Bắc; rồi bị bắt giam ở những khu đặc biệt đó.'  Muốn vào khu này phải qua 2 lần cổng, có tường gạch bao quanh.  Nhưng có lẽ khi giam giữ biệt kích thì khác; còn khi chúng tôi 'được giam' ở đây có vẻ cởi mở hơn; vì những cánh cổng thường không đóng bao giờ.  Họ để cho chúng tôi đi lao động hàng ngày; cho khỏi phải ra mở cửa.

Cuộc sống dù cực khổ đến đâu, sống mãi; rồi người ta cũng phải quen.  Nhịp sống hàng ngày cứ thế trôi đi; dù đói rét, thiếu thốn; và, trong cấm đoán vô cùng khe khắt.  Nhà tù nào chẳng thế, nó có những quy luật, quy định riêng.  Những ngày đầu, người ta cấm luôn cả trà, cà-phê; thậm chí cấm cả đeo kính cận.  Nhưng sau này nới dần, những thứ như thế không bị cấm nữa.  Chỉ còn những thứ đã thành 'luật'; thì, luôn bị cấm, cấm ở bất cứ đâu.  Cấm 'mua bán đổi chác linh tinh', cấm dùng thức ăn lâu ngày bằng bột, cấm tỏi;  cấm tất cả những dụng cụ sinh hoạt bằng dao, kéo, muỗng nĩa. Tuy vậy, có anh tù nào lại ngây thơ, ngoan ngoãn, đến nỗi tuân theo hoàn toàn những quy định ấy.  Mua bán, đổi chác linh tinh vẫn cứ diễn ra; dao kéo vẫn cứ được lén lút sử dụng hàng ngày; những thứ đã được 'cải biên' thành dao kéo mini nhỏ nhắn; cho dễ cất giấu.  Nó là những vật dụng cần thiết cho đời sống hàng ngày; dù có bị bắt, thì cũng chỉ bị tịch thu, chứ không đến nỗi bị cùm 1 hoặc 2 chân -- tùy theo tội đưa vào 'thiên lao', tức là thứ phòng giam đặc biệt trong trại tù.


2
Ngày qua ngay, cái 'không khí êm ả' của trại giam trở nên phẳng lặng; dĩ nhiên là không thể nào nói rằng, đó là thứ 'an tâm', hồ hởi, phấn khởi; mà bất cứ anh trại viên nào cũng phải viết, khi làm những 'bàn kiểm điểm'-- mặc dù kể cả người viết, người đọc, chẳng ai tin.

Nhưng cái không khí ấy ,đôi khi;bỗng nhiên bị xáo trộn.  Vào một buổi sáng tinh mơ, khi chúng tôi đng ngồi ở cái sân đất giữa trại, chuẩn bị gọi tên từng đội đi lao động; để 'một ngày vinh quang như mọi ngày' ; thì, bỗng đâu toán lính gác trại  tù sồng xộc chạy vào.  Họ chạy rầm rập như ra trận như ra trận, súng ống chĩa về phía 'quân thù', mặt mủi 'khẩn trương'  rõ rệt.  Họ xộc thẳng vào phòng giam trống hốc, cứ làm như có địch ẩn nấp đâu trong đó.

Chúng tôi ngẩn ngơ đứng nhìn, không hiểu họ giở trò gì. Có những khuôn mặt lo lắng, một nỗi lo lắng bâng quơ.  Chuyển trại hay có một ai trốn trại.  Chưa biết. Toán lính lục tung hết mọi thứ đồ đạc ít ỏi; [của] mỗi người tù có được trong gói hành trang của riêng mình.  Sau đó chứng nửa giờ, một vài gói đồ bị tịch thu được vác lên 'phòng thi đua'.  Lúc đó thì chúng tôi mới hiểu rằng: 'đó chỉ là một kiểu khám phòng để tìm ra những thứ đồ 'quốc cấm' của trại đã quy định'.

Thật ra,đó là cái cung cách ở những trại cải tạo thường dùng; để khuấy động cái không khí trầm lặng, dễ phát sinh ra những 'tiêu cực'.  Bời; trong cái sự yên bình của một trại giam, người tù có thể liên kết với nhau, làm một chuyện gì đó, như tổ chức trốn trại; hoặc, có thể có những vụ xúi giục 'tuyệt thực', bàn bạc chống đối ...

Nếu nói đến sự chống đối; thì có hàng trăm thứ để có thể chống đối được.  Thí dụ: sự ăn đói, sự đối xử bất công, sự oan ức vô lý, sự trù dập của một vài anh 'quản giáo', sự hỗn hào của mấy anh lính võ trang.  Chuyện gì cũng có thể chống đối được.  Vì thế; thỉnh thoảng họ phải làm cho cái không khí đó mất hẳn cái vẻ trầm lặng, để chứng tỏ lúc nào họ cũng đề phòng, lúc nào họ cũng 'đề cao cảnh giác', lúc nào họ cũng sẵn sàng đối phó với mọi 'mưu đồ'.

Các anh tù đứng có 'tưởng bở', chẳng bao giờ yên đâu.  Cứ sau mỗi lần như thế; chắc chắn thế nào họ chẳng vớ được một anh nào đó giấu những thứ vớ vẩn; như dao kéo, thư từ, sách vở tiếng nước ngoài, tiền bạc, đồ dùng  ngoài quy định.   Tất nhiên sẽ có những cuộc 'kiểm điểm, phê bình'; chúng tôi gọi là những 'buổi tối ngồi đồng'; để từ đó, hi vọng lòi ra một vài cái 'tội'.  Đội nào khôn ngoan thì cứ ngồi im, ai 'phê' thì cứ mặc; còn cãi thì còn phải 'ngồi đồng'.   Đi làm suốt ngày mệt mỏi đến thở không ra hơi; tối về, còn ngồi đồng, còn [bị] 'phê bình', còn 'kiểm thảo'; thì chịu sao nổi.  Nay 'làm chưa xong'; thì mai lại ngồi tiếp, ngồi cho đến khi nào tìm ra tội mới thôi.  Tội nặng, tội nhẹ; tùy theo tình hình của từng thời điểm.

Thời điểm 'căng', thì vào nhà kỷ luật đặc biệt; nằm 'treo một chân', thời điểm nhẹ nhàng thỉ cảnh cáo, ghi tội vào biên bản.  Họ sẽ có những biện pháp an toàn; như chuyện đổi 5, 7 anh; từ đội này sang đội khác, để tránh những chuyện thông đồng, những tổ chức, những phe nhóm có thể gây nguy hại đến an ninh trại tù.

Chung quy, đó chỉ là một cách đào xới tung:  cái tinh thần 'tưởng rằng yên ổn' của mấy anh 'trại viên' còn tỏ ra cứng đầu; còn có mưu toan kéo người này, người kia vào trong phe mình, để từ đó, có những yêu sách; hoặc, toan tính bất lợi cho trại tù.  Mỗi lần như thế, trại tù cũng rối tung lên; và, làm cho những anh yếu bóng vía, thường phải sống dự vào tinh thần bè bạn, càng thêm rụt rè; chẳng biết tin vào ai được nữa..  Nhưng riết rồi trò gì cũng thanh quen; đối với một số người 'chẳng có gì để mất', thì họ trở nên như đá, muốn làm gì thì làm; chỉ có cái thân tù đói này thôi, sống cũng được, chết cũng chẳng sao.

Có lẽ tôi cũng đã được học tập cái tinh thần ấy của những anh bạn trẻ; bởi, tôi cũng chẳng có gì để mất.  Vợ con, nhà cửa đều đã mất tất cả rồi; chẳng có gì phải lo. Đôi khi tôi sống tưng tưng, ông anh ở Sài gòn gửi cho cái gì; thì nhận cái nấy.  Và, một sự thật không thể quên; nếu không có ông anh rể tốt bụng đó; thì, tôi cũng đã trở thành một thứ 'caritas', như một số anh em trong trại tù rồi -- tức là những người chẳng có ai thèm nuôi.

Những bà vợ đau khổ+ những gia đình đói khát lầm than; họ lo cho chính họ không xong, thì lấy gì đi 'thăm nuôi' người ở trong tù; lại ở tuốt tận miền Bắc xa tít mù tắp. Thậm chí, có người còn vui mừng; khi thấy vợ bước đi bước nữa ,với một anh nào đó; đưa các con ra được nước ngoài.  Tôi nói thế; để chứng minh rằng: không nên trách cứ bất kỳ một ai trong hoàn cảnh cay nghiệt này.  Theo tôi thì những anh 'mồ côi' không ai thăm nuôi trong trại tù, mới được hưởng trọn vẹn cái 'thú đau thương'.

3
Trở lại chuyện buổi sáng tinh mơ, khi toán lính chạy sồng xộc vào trại, là một buổi sáng cuối mùa đông, trước tết âm lịch chừng vài ngày.  Đây cũng là biện pháp an ninh thông thường của các trại tù; trước những ngàylễ tết lớn.  Tôi thảnh thơi đi theo đội đi làm ở ngoài đồng; tôi vẫn cứ yên chi rằng chẳng có gì để mất, chẳng có gì quan trọng.

Vào mùa đông, cái thứ quan trọng nhất, là rau.  Mùa này thiếu rau đến ... khô quắt cả dạ dày; rau muống, bầu bí không trồng được, chỉ còn rau cải; trồng cải thì lâu [được] ăn, năng suất lại không cao -- nên được tí rau, là hạnh phúc nhất.  Tôi ngồi lê la trước mấy luống xu hào, đó là thứ 'thực phẩm cao cấp' nhất trong khu vườn của toàn đội.  Những củ xu hào bắt đầu to hơn nắm tay, nằm tròn trĩnh dưới những tàu lá xanh mượt; tôi trông coi chúng, vì cái công sức tôi bỏ ra một tháng trời. Tôi coi chúng cũng như một tác phẩm nào đó; tôi đã từng viết ra; ở đây, không có gì để coi như tác phẩm, thì coi nó là tác phẩm vậy; để có cái mà thú vị+ cái quên đi những thứ quanh mình.

Cứ như thế; tôi tha hồ đặt tên từng luống xu hào, có khi là một cái tên nghe có vẻ 'lả lướt', như tôi đã gặp ở phòng trà khiêu vũ; có khi là một cái tên rất dung tục.  Âu cũng là một trò 'nghịch ngợm', giữa vùng rừng núi âm u; hầu như không có mặt trời mùa đông này.  Nhưng tôi biết rằng trò chơi của tôi sẽ phải chấm dứt trong 1, 2 ngày nữa.  Bởi tết ta đã đến, dù luống xu hào còn non, chưa đến ngày 'thu hoạch'; nhưng cần thức ăn trong 3 ngày tết, họ sẽ nhổ.  Nếu tù không ăn, thì cai tù ăn; chứ không đời nào họ chịu để đến mùa xuân.  Nhưng vui chơi được giờ nào, hay giờ ấy; trong cuộc sống phù du này.

Buổi trưa về đến trại, trong khi bạn bè xung quanh đang xôn xao; kẻ bị tịch thu cái này, người bị mất cái kia, thì tôi vẫn nhởn nhơ; vì tôi chẳng có gì để mất.  Tôi xách tô đi lấy cơm, gọi là phần cơm; nhưng thật ra, chỉ có đúng 1 bát bo-bo tương đối khá đầy đặn.  Tôi ăn thì tạm lưng lửng, [còn] những bạn tôi thì không bao giờ đủ.  Họ thường nói, 'vừa ăn xong, vẫn cứ tưởng như mình chưa ăn'.  Cái đói cứ lửng lơ mãi; ngày này qua ngày khác, thế mới khó chịu. Có những ông bạn tôi ăn theo kiểu câu dầm; lấy cái  muỗng tre nhỏ xíu; hoặc, một cái gì đó lớn hơn cái đầu đũa, múc từng muỗng ăn rả rích suốt ngày; để có cảm tưởng, lúc nào cũng được ăn, nó làm lu mờ cái cảm giác đói -- đó là cách tự đánh lừa mình.

Tôi cũng ăn dè, hà tiện'; nhưng ăn bằng muỗng.  Cái muỗng rất đặc biệt bằng 'inox' hẳn hoi, có chạm trổ tinh vi, luôn luôn được chúi rửa sáng bóng.  Nhưng sáng nay, được chia 2 củ khoai lang ăn sáng; nên tôi để cái muỗng ở nhà.  Tôi thường cất nó vào trong chiếc lon 'Guigoz' -- một loại vỏ hộp sữa được chế biến thành đồ dùng rất thông dụng, nhiều lợi ích của hầu hết những anh tù; nó có thể dùng 'trăm công ngàn việc', từ đựng các loại thức ăn, thức uống, đến đun nấu, câu móc, đựng mắm muối, chứa đồ để dành, tắm rửa, đánh răng, rửa mặt.  Nhưng hôm nay; thì cái muỗng biến mất, tất nhiên là nó bị tịch thu trong buổi khám xét trại, sáng nay.

Đây là thứ 'gia bảo', tôi đã cất giấu nó suốt mấy năm, chưa hề lơi lỏng.  Nó luôn luôn nằm sát bên tôi; lúc nào đi lao động, cũng như khi nằm ngủ.  Có thể ví như một cái nạng của anh què, cái gậy của ông lão 90, một thứ đã thành thói quen bám vào cuộc sống.

Sau một buổi trưa mưu toan tính kế; chiều hôm đó, tôi quyết định đến gặp Dực, anh chàng trưởng ban thi đua của trại.

 Dực cũng chỉ là một 'trại viên'; nhưng trước đấy, anh ta là cán bộ 'thoái hóa tiêu cực' sao đó; nên bị đi tù.  Những anh cán bộ + quân nhân trong trại tù, thường được gọi 'phạm binh phạm cán'; tức là tội phạm thuộc binh sĩ, cán bộ cũ.  Họ có một chế độ đãi ngộ riêng; thường được dùng vào trong các công việc cần đến sự tin cậy của giám thị.

Bữa khai lý lịch, thấy tôi khai là dân huyện Quỳnh côi, tỉnh Thái bình; Dực liền hỏi quê quán,  nhận là người cùng quê.  Một lần, Dực dẫn chúng tôi đi lấy quần áo ngoài trại chính; qua khoảng đồi núi quanh co, anh ta chỉ tay lên mảng cây cối thưa thớt, nói với tôi rằng: "cậu huyện Nhụ nằm ở đó".

Tôi hỏi anh ta có họ hàng thế nào với ông huyện Nhụ; anh ta nói, cháu gọi ông Nhụ bằng cậu; nhưng, gia đình cụ Nhụ vào Nam, còn gia đình anh vốn nông dân, ở lại miền Bắc.

Cụ Nguyễn mạnh Nhụ * trước năm 75, chánh án tòa Sài gòn; tôi nghe nói' cụ cũng có họ hàng với gia đình tôi, tuy là họ xa'.  Cụ làm tri huyện từ khi còn rất trẻ, sau này tôi có gặp cụ vài lần.  Tôi kể cho Dực nghe đôi ba chuyện về cuộc sống cụ huyện Nhụ, khi còn ở Sài gòn.  Sau này, đi 'cải tạo' , cụ mất ở trại này.  Dực nói, 'trước khi cụ chết, cụ chỉ thèm được ăn một cái bánh giò' -- Dực nhắn người nhà ở Thái bình, khi đi thăm nuôi; thì ghé qua Hànội mua 'lén' vài cái; bánh giò mang tới nơi, thì cụ đã mất rồi.'
---
* ông Nguyễn mạnh Nhụ la con trai cụ bảng Mộng -- tháng 5/ 1954 là giám đốc Báo chí bộ Thông tin+ tuyên truyền, dưới thời tổng trưởng Phạm xuân Thái (phe Cao đài hợp tác lập nội các với thủ tướng Ngô đình Diệm). Ông là bố của biên lý kiêm thi sĩ Huy Trâm [ i.e. Nguyễn hồng Nhuận-Tam, 1936-    ], hiện ở bang California/ Hoa Kỳ.[ (Bt)

Tử đó đối với tôi, Dực có phần dễ chịu hơn.  Dĩ nhiên là cái khoảng cách giữa một bên là 'ngụy', một bên là 'cán'; thì cũng khó san lấp được ...

Nhưng hôm nay; thì tôi cần đến hắn.  Suốt buổi trưa, tôi không gặp được Dực.  Cho đến 2 hôm sau, khi trại đã xôn xao chuẩn bị cho những ngày tết ta, tôi mới gặp được Dực.  Trong khi đó, tôi dò hỏi mấy tay làm văn hóa; xem những thứ bị tịch thu còn để trong phòng thi đua không?  Họ nói: 'còn để trong kho, lẫn lộn với những thứ đò dùng khác'.  Tôi mang cho Dực một ít thuốc  đau dạ dày của ông anh tôi gửi vào.  Rất may cho tôi,hắn cũng bị đau dạ dày. Và ,cái thứ thuốc trị bệnh dạ dày ở miền Bắc hồi đó, chỉ là 'tí mật ông trộn với củ nghệ, không mấy công hiệu'.  Tội có thứ thuốc 'cao cấp' hơn là 'Ma-lốc' ; uống vào làm cơn đau dịu xuống ngay.  Thuốc Mỹ [sản xuất] đàng hoàng, người ta ghét Mỹ; nhưng thuốc của nó tốt, có sao đâu?'

Tôi gạ chuyện, để xin lại cái muỗng; Dực trợn mắt:
" Anh làm cái gì mà cần cái muỗng * đến thế?  Bây giờ để trong kho, chui vào đấy,trực trại nó biết; thì, tôi vào nhà đá."
---
* muỗng, (cái thìa) phương ngữ Nam bộ.(Bt)

Tôi năn nỉ:
" ... là đồ gia bảo của tôi đấy.  Anh biết không, tôi mất nhiều thứ lắm; một cái bằng lái xe 3 dấu, 1 cuốn tự điển. Nhưng tôi không cần, chỉ cần cái muỗng thôi."

Dực nhìn tôi nghi ngại:
" Hay mày giấu tiền trong đó?"

Dực hơn tôi 2 tuổi; hắn gọi tôi bằng 'mày', tôi cũng không [bị chạm] tự ái; dù hắn có kém tôi vài ba tuổi; mà lúc đó gọi tôi bằng 'mày', tôi cũng cho qua luôn.

" Cái muỗng đặc,nhỏ như thế, làm sao giấu tiền được"?

Dực nửa đùa nửa thật:
" Bọn mày thì lắm trò lắm, cái gì chúng mày cũng làm được.  Chưa biết chừng, mày giấu cả cái máy quay phim trong đó, cũng nên.  Tao nghe nói mày có sách làm phim, phải không"?

" Đúng, nhưng là tôi viết truyện; rồi người ta lấy làm phim, chứ tôi biết cái 'cóc khô' gì".

" Vậy, sao mày chỉ đòi lấy cái muỗng; mày mua chuộc tao bằng 2 vỉ thuốc đau dạ dày, không bõ.  Khéo không, chết cả đám.  Tao không chơi."

Tôi thất bại; nhưng vẫn không chịu bỏ cuộc.

Chiều hôm đó, Dực lại được lệnh phải làm một cái phòng đọc sách vào dịp tết ta.  Tôi đang loay hoay dán mấy cành hoa đào lên tấm phông trên hội trường; thì Dực kéo tôi xuống.  Nó bảo tôi đi khuân sách trên thư viện về hội trường; kê bàn ghế, trang trí thành khu đọc sách báo trong 3 ngày tết, cho ra vẻ 'có văn hóa'.  Nhưng nếu coi thư viện; thì không được ăn tết ở phòng, phải ngồi trực ở hội trường. Tôi nhận lời ngay, dù biết rằng sẽ mất cái thú vị cùng dự những ngày tết với anh em trong phòng --  và, mất cái thú ngồi đánh mạt chược, bằng những con bài gỗ do chúng tôi làm lấy.

Thế là, tôi có dịp lân la nói chuyện với Dực về cái muỗng của tôi.  Dực vẫn nghi ngờ rằng: 'tôi có cái gì giấu trong đó'.  Tôi đành kể cho Dực nghe,
"Buổi sáng hôm tôi phải đi 'học tập cải tạo'; vợ tôi chuẩn bị một số đồ dùng hàng ngày, đưa vào túi xách.  Đứa con gái của tôi; khi đó mới hơn 3 tuổi, thấy mẹ nó bỏ vào túi xách; quần áo, khăn mặt, thuốc men ... , nó đang ăn sáng, củng bỏ vào xách tay của tôi cái muỗng đang ăn. dặn dò, "con cho bố mượn, khi nào bố về, phải trả lại con đấy."

Tôi ôm con gái, gật đầu hứa: 'khi bố về sẽ trả'.  Nhưng quả thật, tôi vẫn nghĩ, chẳng bao giờ trả lại được cho nó; lần chia tay này có thể là vĩnh viễn ... Chúng tôi ngậm ngùi chia tay; không thể hẹn được ngày về, vì có biết ngày nào về đâu; mà hẹn!'

Thế là từ đó, cái muỗng theo tôi suốt những bữa ăn, suốt trong giấc ngủ.   Hình ảnh con gái + gia đình tôi hiện lên, qua cái muỗng đó.  Tôi vẫn [tự] đánh lừa  rằng tôi đang được ăn bên con gái, bên những người thân.  Dù tôi biết rất rõ sự lừa dối ấy, niềm ước vọng không bao giờ thành hiện thực; vậy mà đôi lúc tôi cũng thấy ấm lòng.

Nghe câu chuyện ấy; Dực tỏ ra chần chừ, hắn vỗ vái tôi,
"Thôi được, nếu như th;ế tôi giúp cậu.   Tối nay, khi ngồi coi phòng đọc sách; tôi sẽ giữ phần bánh chưng lại cho cậu, tôi sẽ gọi cấu xuống phòng thi đua, [để] cậu ngồi ăn ở đó -- trong khi toi gọi ban thi đua lên phòng hội; thì tôi giả vờ để quên cái chìa khóa kho.  Cậu mở cửa vào lấy, có gì thì cậu chịu trách nhiệm.  Nó vớ được, thì 'kỷ luật' suốt cái tết này đấy; chưa chừng suốt mùa xuân."

Chẳng còn cách nào khác, tôi đành làm theo cách 'ăn trộm' này.  Tối đó tôi mở khóa, tôi mò vào gian nhà kho.  Ánh điện từ ngoài hắt vào, vừa đủ soi sáng cái đống 'hầm-bà-lằng', đủ thứ đồ dùng lặt vặt, vừa bị thu mấy hôm trước.  Tôi sục ngay vào cái đống linh tinh đó; quả là những anh bạn tù của tôi có lắm trò chơi thật.

Thôi thì đủ thứ: cái điếu cày được làm bằng những ồng hỏa châu; hoặc, những cái lược cho con gái; cho người yêu, làm bằng nhôm, được khắc những cái tên 'Hồng Hoa, Bích Phượng, Thúy Hường ' ...; nghe nao cả lòng.  Những con dao nhỏ xíu, những cái muỗng gò bằng tôn, cũng có hóa lá cành xinh xắn.  Tất cả những cái gì bằng sắt đều nằm gọn ở đó.

Sách vở tiếng Pháp, tiếng Anh; và đủ thứ giấy tờ lộn xộn.  Cái tôi kiếm được trước tiên,  cái bằng lái xe của tôi.  Tôi không dại gì; không đút vào túi, dù chẳng biết để làm gì.  Tôi lại hì hục lục tiếp; vừa hồi hộp, vừa phải thật nhanh tay, tôi đâm ra lính quýnh.  Dù chỉ một tiếng động nhỏ, cũng khiến tôi giật mình.  Cái muỗng của tôi vẫn chưa tìm thấy.  Ruột nóng như lửa đốt, tôi bới tung hết cả cái đống ấy; và đâm hốt hoảng, nếu cái muỗng không còn ở đó nữa.  'May quá, cái muỗng kia rồi' , nó nằm dưới cuốn sách dày cộm của 'thằng chết tiệt' nào đó.  Nó chỉ thò ra có mỗi cái đuôi, tôi cũng nhận ra nó ngay; lúc đó, tôi có cảm tưởng như 'con có ở xa hàng cây số, thì bố cũng nhận ra con như thường'.

Tội vồ lấy nó, như sợ bị người ta giật mất.  Tôi nhìn cái hoa văn chạy dọc theo cán muỗng; tôi đã quá thân thuộc, như chính cái nét mặt con gái tôi, khi nó nhí nhảnh, đưa cái muỗng vào trong túi xách.  Nó vẫn cứ tưởng là một chuyện vui; bố đi chơi, rồi mai bố về.  Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó; và, trong nụ cười hồn nhiên của nó.  'Ừ, thì vui'.  Tôi cười trong nụ cười mếu máo của mẹ nó; và, trong nụ cười hồn nhiên của nó.  Không hiểu sao trong lúc gay cấn như thế;  hình ảnh xưa lại hiện lên rất nhanh, như một ánh chớp.  Tôi vọt ra khỏi phòng, khoá cửa lại; biến nhanh vào bóng tối, trên con đường về 'khu biệt kích'.  Thoát nạn!

Cái tết ta ấy, tôi lại được vui chơi với muỗng của tôi; dù tôi phải hi sinh suốt 3 ngày, trong khi mọi người được nghỉ ngơi; [còn] tôi cứ phải quanh quẩn trong cái 'phòng đọc sách', chẳng có ma nào thèm ngó đến ấy.

Những dịp nghỉ ngơi như thế cũng hiếm hoi; như chuyện được ăn một bữa cơm, chứ không phải khoai sắn, hoặc, bo-bo.  [Quả] là tôi thấy hạnh phúc, cứ như sắp ra pháp trường; rồi lại được cứu.  Chỉ tiếc rằng người cứu tôi không phải là bạn đồng minh, đã từng chiến đấu với các đồng ngũ của tôi, trong những năm qua -- người đồng minh đó đã 'gan dạ' cuốn cờ chạy nhanh; và, chạy xa quá rồi.  Thôi thì, tôi tự cứu lấy cái muỗng của tôi vậy.

Một lần khác, tôi lội qua con suối sâu, sau cơn mưa lớn.  Chỗ chúng tôi đi làm phải đi qua một con suối, [đó] là suối lạnh.  Bình thường nó cạn, dòng nước trong vắt,dịu dàng; trôi lờ lững trên những tảng đá xanh.  Chúng tôi thường dùng nơi này làm bến tắm.  Nhưng cứ có một cơn mưa lớn, nước từ những triền đồi vây quanh 4 hướng, ào ạt đổ xuống; chỉ cần nửa giờ sau, con suối trở nên hung hãn, nước chảy cuồn cuộn, mang theo những cành cây; những khúc gỗ lao băng băng.  Chúng tôi phải gấp rút lội qua con suối trở về; trước khi con suối trở thành hung dữ.  Sang gần tới bờ bên kia, tôi loạng choạng làm đổ cái túi đồ, những thứ lặt vặt, trong đó có cái muỗng.  Ở đây, tôi thuộc từng khe đá, tôi không ngần ngại nhoài người xuống để mò. Anh bạn nhảy dù, la lên,

" bộ ông điên sao?"

Tôi điên thật, hi vọng mình mò được.  Nhưng nước chảy xiết quá, tôi lại thua . Anh bạn nhảy dù
 què 1 tay; vì bị thương ngoài chiến trường, rất hiểu tôi; anh ta lội xa hơn một khúc, rồi khom người xuống, thò một tay ra cái khe hòn đá,  là tìm được cái muỗng.  Đôi mắt rất tinh, anh mỉm cười.

"... tôi biết ông mất cái gì rồi."


4
Chuyện trớ trêu: hơn 12 năm sau; tôi đã trở về, nhưng chưa trả lại cái muỗng cho con tôi được; vì mẹ con nó đã vượt biên, định cư ở nước ngoài rồi.  Hơn 20 năm, tôi chưa hề gặp lại con gái tôi.  Tính đến năm nay, đã 27 năm, con gái tôi đã 30 tuổi.

  Ngày 29 tháng 9, năm 2002 vừa qua, cháu đã lập gia đình ở Miami, bang Florida.

Nhận được thiếp báo tin, tôi không biết mình vui hay buồn.  Hình như, không phải vui hay buồn; một thứ cảm giác kỳ lạ, cứ lơ lửng lẫn lộn.  Chú thím nó + các anh chị nó ở Mỹ, đầu hẹn nhau đi dự đám cưới.  Tôi thì không, chẳng hẹn hò được điều gì cả; và, chẳng làm được cái gì cả.  Tôi có cảm giác như mình thừa.  Rất may là, trước ngày đám cưới; cô chú nó về Sài gòn, chính tay tôi được tấm thiệp mừng con gái.  Tôi gửi theo cái muỗng trả lại cho con gái, như lời hứa từ 27 năm về trước. Vật đó, có thể thay cho sự cò mặt của tôi không?  Tôi không biết.  Nhưng tôi nghĩ rằng: 'gửi cho cháu, để cháu hiểu rằng; lúc nào tội cũng coi như cháu còn nhỏ lắm, như mơi hôm qua, 2 bố con còn ở bên nhau.  Tôi đi chơi đâu đó; và, hôm nay trở về.  Nhưng, cháu đã đi xa; còn tôi vẫn ở Sài gòn,
 nơi nó đã sinh ra.  Cháu sẽ nghĩ gì, tôi không biết.'

Vài hôm sau; có một điều tôi biết rất rõ: 'từ khi cái muỗng được gửi đi, tôi cảm thấy trống trải, như mất mát một cái gì, xa vắng một cái gì thân thiết hàng ngày ở bên mình.  Tôi cho rằng nó cũng giống như cái cảm giác của những ông bố, bà mẹ cho con gái mình đi lấy chồng xa.  Nỗi buồn lâng lâng bay chập chờn khắp nơi. Đó chính là sợi dây vô hình, nối liền mãi mãi tình thương yêu, dù ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này.  Cuối cùng, người ta chỉ còn lại cái tình.  Cái tình ấy dù gửi đi tới đâu cũng vẫn còn lại; đôi khi lại mạnh mẽ, sâu sắc hơn, chỉ khi nào người ta tự đánh mất nó, thì nó mới mất mãi mãi.  Tôi chắc chẳng  ai dại gì làm mất cái thứ vật đó trên đời, không gì có thể so sánh được.'

Lẽ ra chuyện này, tôi đã viết ngay từ tháng 9/ 2002, nhân dịp cháu lập gia đình.

 Nhưng ngồi mãi trước 'computer'; tôi không gõ được chữ nào, đầu óc lung tung.  Dường như khi cảm xúc quá đầy, người ta không thể làm gì được, ngoài việc cứ để nó tuôn trào lênh láng; như ngồi dưới cơn mưa.   Không nghĩ ngợi gì cả, cứ ngửa mặt lên cho mưa đầy mặt, thế thôi !  Đúng là chuyện của người thì nhanh; mà chuyện của mình, thì nghẹn.  Mãi đến hôm nay, tôi mới ghi lại được những dòng chữ này; nhưng tôi cho rằng chẳng bao giờ muộn, vì nó là thứ chuyện của cả một đời, hay là của muôn đời.   []

    văn quang

                                                                                  http://truongxuabancu.fpb.yuku.com/topic/
   
                                                                trang chủ: KimAnh Truong

Thứ Năm, ngày 22 tháng 9 năm 2016

gửi yên bái/ thơ nguyễn khôi / tặng: nhà văn thế phong+ tưởng nhớ lê đat ( fwd .by nguyễn khôi/. hanoi)

gửi yên bái/ thơ nguyễn khôi
fwd. by nguyễn khôi/ hanoi


                                                    nguyễn khôi    [ yên bái 26-12- 1938-        ] 
                                                                                        (ảnh: internet)

' Nguyễn Khôi sinh 26-1- 1938 tại  [Nhà thương Yên thái], thị xã Yên bái [Bắc bộ], quê quán phường Đình bảng, huyện Từ sơn, tỉnh Bắc ninh (Bắc bộ); hiện thường trú tại 259/39 phố Vọng, Hànội.   Hội viên hội Nhà văn Hà nội; ùy viên ban chấp hành hội Văn nghệ Dân gian Hànội ;   ủy viên ban chấp hành hội Văn học nghệ thuật Các dân tộc thiểu số Việt nam (khóa 2).

- 1984- 2000:   - tốt nghiệp kĩ sư canh nông 1963, lên công tác tại Sơn la (Tây bắc); ở đây 21 năm, từng kinh qua các chức vụ trưởng phòng, giám đốc nông trường, thư ký Ủy ban nhân dân tỉnh Sơn la.
  Ngoài công tác chuyên môn; ông ra sức học tiếng Thái, đi sâu , tìm hiểu văn học Tây nguyên -- kết quả' Gửi mường bản xa xôi' đã được đưia vào các tuyển tập thơ quốc gia, được xếp vào hàng các nhà thơ Việtnam .(thế kỷ 20).
Bản dịch' Sống chụ son sao' (bản việt ngữ:'Tiễn dặn người yêu) được coi như một bản dịch thành công.

1984- 2000:    - 1985,  tốt nghiệp Học viện quốc gia hành chính Hà nội (+     
1986- 1987: tốt nghiệp quản lý kinh tế+ tài chính Đại học Kinh tế  tài chính "Xanh-Petecbua' (Cộng hoà liên bang Nga); chuyên viên cao cấp/ phó vụ trưởng Văn phòng quôc hội Việtnam.

2002- 2009:  nghỉ hưu; tập trung viết 'Cổ pháp cố sự' ( 4 tập/ 920 trang) là môt công trình khảo cứu công phu. 

tác phẩm đã xuất bản:  Trai Đinh bảng  (Hànội, 1995) -- Gửi mường bản xa xăm (Hà nội. 1998- giải  hưởng hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt nam  -- Bắc ninh thi thoại  -- Cổ pháp cố sự (4 tập/ giải thưởng VHNT thủ đô 2008.)      - WIKIPEDIA -



                                      gi yên bá/ thơ nguyn khôi 
                                                                         TẶNG:   NHÀ VĂN THẾ PHONG
                                                                                                       - TƯỞNG NHỚ LÊ ĐẠT 
                                                                                                           (1929- hanoi 2008)

 lời dẫn:


Bố tôi bảo,

"Yên bái là đất dữ, không có hậu; dòng sông Thao chảy đến đây 60 năm bồi/ 60 năm lở; ai thất cơ lơ vận, dạt lên đây lập nghiệp; lúc đầu làm ăn rất phát đạt ... rồi cuối đời lại sa sút, mạt vận."

 xưa, ông bà ngoại tôi từ Đình bảng/ Bắc ninh; theo đường xe lửa Việt- Điền lên thị xã Yên bái, mở cửa hiệu buôn bán thuốc lào, vải vóc, tơ lụa vào vùng Nghĩa lộ- Sơn la; [sau cùng]lên tới Vân nam. 

Năm 1930, Việt nam quốc dân đảng[VNQDĐ] khởi nghĩa thất bại, lãnh tụ Nguyễn thái Học + mấy đồng [đội] phải lên máy chém. 

- năm 1944- 1946, nơi đây là điểm huyệt; giữa Việt Minh/VNQDĐ.
- thời kỳ 1965- 1975 bị bom Mỹ hủy diệt
- thời nay, ngày 18 tháng 8 năm 2016 là 'đồng chí bắn đồng chí' ... 

Nguyễn Khôi tôi, sinh ngày 26 tháng 12 năm 1938 tại Nhà thương Yên Thái, thị xã Yên bái; đây cũng chính là nơi sinh nhà văn Thế Phong (Đỗ mạnh Tường/ 1932-   ); nhà thơ Lê Đạt (Đào công Đạt  1929- 2008) -- Nguyễn Khôi có bài thơ tặng anh Thế Phong (ngày 13/1/ 2012), như một 'dự báo' ...-- nay, thấy còn nguyên tính thời sự, xin đăng để cùng các bạn thơ chia sẻ.

 -NGUYỄN KHÔI- 



                    GỬI YÊN BÁI 
                                            'NƠI MẸ SINH TÔI ĐẦU NGUỒN NƯỚC LŨ
                                                        ĐI BIỆT TĂM CHẲNG CÓ NGÀY VỀ'




               Ơi Yên bái, người đi không ngoái cổ
               bỏ lại vầng trăng, câu hát lưng đèo
               về Hà nội giữa dòng đời ngang trái
               đi tỉm hoài một dáng thân yêu.

               Đâu hương 'quế', hương 'hồi' chiều xanh ngát
               giữa phố phường chật chội sặc hơi 'tiền'
               giữa chen chúc lòng ngắc ngư câu hát
               thèm một khoảng rừng ở góc 'công viên'.

               Ta là người điên -- kẻ quên quá khứ
               trong cơn mê lành một tiếng còi tàu
               cứ ngỡ đêm rừng qua ga Phú thọ
               lửa lập lòe ai đợi bến Âu lâu ?

               Nơi con sông Thao đổ vào đầu phố
               'cây Đa' mé chợ, nơi 'đoạn đầu đài' *
               'phố''phố' của người đi chẳng nhớ
               tiếng súng đùng đoàng chạng vạng hôm mai **

               Ai đi xa có ngày về Yên bái
               tôi đi xa là trốn biệt nơi này
               là kẻ phụ tình, đứa quên xứ sở
               để cõi lòng rỉ máu, buốt đôi tay.

               nguyễn khôi
                        Hànội 13- 11- 2012
              

                    ---
                     *    nơi xử tử Nguyễn thái Học và các đồng đội VNQDĐ
                    **  nơi quyết chiến khốc liệt giữa Việt Minh & Việt nam quốc dân đảng 
                                    [VNQDĐ) vào năm 1946.        (N.Khôi chú thích)


                                                    thế phong [ i.e. đỗ mạnh tường 10/7/ 1932-  ]
                                                                                      (ảnh: chụp ở Dalat/ 2014 )
                    "... đây cũng chính là nơi sinh nhà văn Thế Phong ( Đỗ mạnh Tường)
                             ... Nguyễn Khôi có bài thơ tặng anh Thế Phong (13-1-2012),
                                 như một 'dự báo' ; nay, thấy còn nguyên tính thời sự, xin đăng lại
                                                                     để các bạn thơ chia sẻ."      
                                                      ( NGUYỄN KHÔI (Hànội, tháng 9/2016)
                          
                  

Thứ Tư, ngày 21 tháng 9 năm 2016

nghệ sĩ mạc can:' nhà văn từ trên trời rơi xuống' / bài viết: trúc vân -- www.baomoi.com/

tựa bài: ' nghệ sĩ mạc can từ trên trời rơi xuống'
www.baomoi.com/

                                                         mạc can    [i.e. lê trung can 1945-    ] 
                                                                                      (ảnh: internet)

                                              tác phẩm viết văn:  

                                             1999:  món nợ kịch trường (tập truyện ngăn)
                                             2004:  tấm ván phóng dao (tiểu thuyết, được giải A hội Nhà văn VN năm 2005)
                                             2005:  cuộc hành lễ buổi sáng (tập truyện ngắn)
                                             2006:  tạp bút mạc can (tạp bút)
                                             2006:  người nói tiếng bồ câu (tập truyện ngắn)
                                             2007:  phóng viên mồ côi (tiểu thuyết)
                                             2008:  những bầy mèo vô sinh  (tiểu thuyết)
                                             2010:  3 ... ngàn lẻ 1 đêm (tập truyện ngắn)
                                             2010:  quỷ với bụt+ thần chết (tiểu thuyết)
                                             2010:  tuyển tập mạc can (tuyển tập)
                                             2011:  nhớ  (tập truyện ngắn)
                                             2013:  mạc can/  truyện ngắn chọn lọc (tuyển tập)

                                                         WIKIPEDIA


                                nghsĩ mc can:
                 'nvăn t trên tri rơi xung'
                                                                     trúc vân


 Nói về nghề viết, Mạc Can không thích người ta gọi ông là nhà văn.

" Tôi học  chữ có 3 năm; mà gọi là nhà văn cái gì?... nhà văn Nguyễn đông Thức mới gọi vui rằng' nhà văn từ trện trời rơi xuồng'; còn một số nhà văn khác gọi ông là 'nhà văn trẻ".

  Tự nhận, từ ngày nhỏ không biết chữ; học 3 năm cũng không đâu vào đâu, chủ yếu là tự học, tự đọc chữ ở bất cứ đâu; trên tất cả những gì... có chữ.  Ông đọc sách, báo; thậm chí những mảnh giấy gói bánh mì, ông cũng ngấu nghiến đến từng chữ một ...

Nhiều người hỏi tại sao ông viết hay vậy; mà không viết từ sớm ?  Ông cười, trả lời: 'hồi trẻ biết gì đâu mà viết; lớn lên di nhiều, trải nghiệm nhiều rồi, rảnh không biết làm gì; thì ngồi viết lại những gì đã qua. Thế là thành 'nhà văn trẻ' thôi.'

Mạc Can nói; 'con chữ đến với ông bất chợt lắm; ngay lúc đó, ông có thể viết ra những câu rất hay; sau đó cũng không thể nhận ra rằng lại viết được như vậy.'

viết là để cho vui; dẫu vậy, văn chương của ông, thì vẫn buồn.  Có những quyển buồn đến ám ảnh; day dứt cả tâm can như Tấm ván phóng dao; hay, Món nợ kịch trường  ...

Còn ý tưởng để viết cũng đến với 'nhà văn trẻ' này vô cùng ngẫu hứng; ' chẳng hạn như hôm nọ, ngồi sửa cái 'laptop' đồ cổ, bị hở mạch điện; lúc mở được, lúc không'.  Thế là ông chèn mảnh giấy vào đó; để chắc ăn hơn, ông đồ thêm ít keo dán sắt vào. '  Lỡ tay, làm rơi xuống sàn nhà;  lại dẫm chân lên; thế là viết được một truyện ngắn Người ngắm trăng, đương nhiên là chuyện hư cấu thôi'.

Mạc Can cho biết; có lẽ không gì ấn tượng bằng kỷ niệm khi ông viết truyện ngắn đầu tay Ảo thuật trong tù; [ấy là] vào năm ông 17, 18 tuổi đã có chút tăm tiếng rồi.

  Một ngày nọ đang lang thang ngoài đường; bị bắt, vì không giấy tờ tùy thân -- ngày đó, tội này bị tạm giam 2 ngày -- còn Mạc Can lại bị giam tới nửa tháng.  Ông thắc mắc, đến hỏi người giam ông; thì nhận được câu trả lời, ' thả ông ra,  trong này buồn lắm!'

Nghe đến đây, Mạc Can mới tá hỏa; thì ra do mình là 'anh hề' nên được 'ưu ái giam lâu như vậy'.

 [Ông kể]:

"  ... tôi vào trong đó, một tay 'đại ca' cho đàn em dọn dẹp một chỗ riệng để làm sân khấ cho tôi diễn hài.  Ngày n2ào tôi cũng diễn; mấy anh trong đó khoái tôi lắm.  Không những thế, tôi còn giả vờ biết xem bói; xem chỉ tay cho đại ca; rồi phán bừa 'ráng tuần này khổ một chút, qua tuần sau là 'anh Hai' sung sướng lắm đó!'.  Và qua tuần sau; thì anh ta sướng thật ... anh ta bị mang ra xử bắn ! " 

kể xong, ông lại cười, đến ho sặc sụa; sau này dựa vào đó,  viết truyện ngắn đầu tay Ảo thuật trong tù.

 Còn với Mạc Can trong vai trò một diễn viên, cũng để lại cho khán giả rất nhiều ấn tượng; dù hầy hết chỉ đóng vai phụ.

 Đóng phim từ sau năm 1975, qua nhiều phim; từ vai bác ba Phi trong phim Đất phương Nam được yêu mến nhiều nhất. ...  Mạc Can cũng không có thói quen ngã gai 'cát-sê';  được trả bao nhiêu; nhận [rồi bỏ túi], không cần đếm lại.   Ông nói: 'trong đầu không có những con số; [lại] rất tệ trong chuyện cộng, trừ, nhân, chia; [nên chẳng] tính toàn tiền 'cát-sê' làm gì.   Còn những năm tháng đã qua; nếu hỏi ông một cách chính xác, cũng không thể nào trả lời.  Ông nói rất thật, chứ không đùa; chẳng hạn hỏi ông sang Mỹ năm nào; ông cũng không nhớ rõ; dù chỉ cách đấy chưa đầy 5 năm.

Chính sự tận tâm, trách nhiệm với vai diễn; đoàn phim nào cũng thích Mạc Can; và thế, là ông có vai diễn liên tục.  Mặt khác, ông luôn được các đạo diễn đánh giá cao; vì ông diễn mà không diễn.  Mạc Can không bao giờ học thuộc lòng lời thoại; chỉ đọc qua lấy ý chính; rồi sẽ thọai theo giọng điệu ngôn ngữ của ông.

 ông luôn yêu cầu với bất cứ đạo diễn nào về điều này; họ đồng ý, còn rất thích thú về vai diễn của Mạc Can.

 Ông thú nhận là; 'chẳng học diễn xuất ngày nào, lại vẫn có thể nhập vai  diễn ngon lành', " với tôi, nghể diễn là nghề bắt chước; quan sát người này, người kia, từ cách đi đứng, nói cười;  khi có vai phù hợp, là tôi lôi ra, sử dụng ngay; tôi thấy nghề diễn viên 'dễ ợt'... "


                                                                       ***

Mùa đông ở vùng ngoại ô thành phố Dallas (bang Texas) lạnh tê tái; tuyết trắng phủ đầy trên từng cành cậy, ngọn cỏ.  Đàn chim thiên di ở đâu bay về, đậu kín cả mái nhà, khung cửa .  Đó là một trong những hình ảnh mà Mạc Can lưu trong ký ức về những năm tháng ở nước ngoài, [sống] cùng vợ con.

Cuộc đoàn viên này cũng chỉ kéo dài hơn 2 năm; sau đó vì buồn, ông 'trốn' về nước,vì," ở bên đó thêm chừng nửa năm nữa thội, là tôi chết vì buồn." -- ông nói .

Mạc Can sợ nhất là mùa đông,ở một mình trong căn phòng nhỏ, cô độc, lạnh lẽo đến tận cùng.  [Rất] sợ những ngày ngồi ở nhà, từ sáng đến tối; để chờ vợ con về; [bởi] không tìm thấy ai để cùng trò chuyện.   Mọi thứ đều lặng lẽ, ngày cũng như đêm;  nỗi nhớ quê nhà, bạn bè, nhớ những con phố Sài gòn thân thương cứ dằng đặc trong ông.  Ông như bị gò bó đội chân đến ngột ngạt hơi thở.

 Mạc Can đặt chân về tới sân bay Tân sơn nhất, vui đến trào nước mắt.  Ông nói: ' thích sống tự do một mình; không phải vì ích kỷ, cũng không phải không thương vợ con; vì cuộc đời là như vậy'.  Có lẽ, những cuộc di cư từ bãi bồi này sang bãi bồi khác; trên chiếc ghe hát rong của người cha ngày nào, đã vận vào tính cách người con.  Ngày đó, ông đã tập cho mình không luyến tiếc điều gì; cứ tháo dây neo là đi, cắm sào là ở.  Tuổi thơ cứ thế trôi dập dờn theo những con nước, mịt mờ như sương khói trên những bến sông buồn; đến giờ cũng không có gì là ổn định.   Ngay cả những người thân nhất, không rõ là ông đang sống ở đâu; giữa Sài gòn rộng lớn, náo nhiệt này.

Mạc Can là vậy, thích phiêu lưu cho trọn kiếp người; thích 'tưng tửng', hài hước; để mang lại tiếng cười cho người đối diện, còn mọi nỗi niềm; [thì] giữ lại cho riêng mình.

Khoảng chừng  30 năm về trước; khi Mạc Cam bắt đầu vào nghề viết; thì, nghệ sĩ Lê Bình, một trong những nhân vật được ông viết [về] nhiều nhất.   Tôi [người viết bài] tình cờ biết được điều đó ; vì có lần được xem qua quyển Dấu ấn thời gian của nghệ sĩ Lê Bình-- quyển sổ này lưu lại toàn bộ các bài báo, hình ảnh; [từ] thuở Lê Bình mới vào nghề.

Hôm ghé thăm nghệ sĩ Lê Bình; tôi có ngỏ lời [đề nghị: ông viết vài dòng về Mạc Can-- người đã từng viết nhiều về ông; và đó còn là đồng nghiệp già, thân thiết nhất. Lê Bình vui vẻ nhận lời ngay, dù đang bận  [rất nhiều] việc.   []

 trúc vân


                                    MẠC CAN, NGƯỜI BẠN GIÀ CỦA TÔI!
                                                              Lê Bình


Những lần tôi ngồi đối diện với Mạc Can, đôi mắt ông không giấu được ưu tư, cười mà mặt cứ như muốn khóc.  'Mạc Can, ông bạn già của tôi', làm cùng với nhau đôi ba nghề: đóng phim, diễn kịch, viết lách ... [khó] giấu nhau được gì ?
Tôi hiểu ông bạn già của mình, những nôi buồn đau không biết chia sẻ cùng ai; ông chôn kín trong lòng, vì không muốn phiền lòng người khác.  Có lẽ, cái đẹp của con người biết tôn trọng người khác là đây -- không ai muốn mất tâm sự riêng tư của mình, thời gian của con người vốn quá hạn hẹp mà !
Mạc Can đang sống trọ, lang thang nay đây mai đó; hành tung của ông lúc nào cũng bí ẩn, ngay cả tôi hỏi ông ở đâu, cũng không trả lời.  Ông chỉ nói :" ở đâu, miễn có chỗ cho tôi viết lách là được rồi, ông Bình ơi!." 
Nhưng không phải vì thế; mà ông không từng có một mái nhà; mà, là ông bò nhà ra đi, cứ lang thang đi kiếm cái tinh thần cho mình.  Có lẽ nhờ vậy, ông viết được quyển 'Tấm ván phóng dao', thành công vang dội.
Tôi nhớ như in, khuya hôm ấy, tôi đang ngủ; thì, nhận được tin nhắn của Mạc Can: " Ông ở lại mạnh giỏi, tôi đi nhen!. "  Gọi, hỏi ông đi đâu; không nói, ông chỉ nói là 'đi xa'.  Sau đó, toi mới biết là ông đi Mỹ; sống cùng vợ con; và, tôi là một trong số rất ít người [được] ông thông báo.   Ông ra đi hết sức lặng lẽ như vậy.
Tưởng đâu, ông đã quyết tâm chấm dứt cuộc sống phiêu bạt của mình; nào ngờ ông vẫn là ông.  Không bao lâu sau, ông quay về Việt nam!
Tôi hiểu và thương Mạc Cam: cược sống có bao điều bất ngờ, cái tốt+ cái xấu không giới hạn.  Mạc Can biết dừng, biết suy nghĩ, biết đi để sống, để viết ... biết kể chuyện cho mọi người nghe -- và, biết vui, khi thấy con nít cười ...
Tôi gọi : 'Mạc Can là nghệ sĩ của cuộc đời'!

lê bình
ĐÊM THÁNG 04/ 2015


   http://www.baomoi.com/nghe-si-mac-cn-nha-van-tu-tren-troi-roi-xuong/c/16494079.epi




                                                       

Chủ Nhật, ngày 18 tháng 9 năm 2016

lê tất điều + thi sĩ cao tần = 2 trong 1 / bài viết: du tử lê ( blog du tử lê)

tựa chính\ ' từ lê tất điều tới cao tần( tiếp theo + hết))
blog du tử lê


                                    lê tt điu + thi sĩ cao tn = 2 trong 1
                                                                        du tử lê


                                                   cao tần [i.e. lê tất điều 1942 -    ]  (ảnh: internet)
                                                                   đã xuất bản: 
                                                                   khởi hành (1961) -- kẻ tình nguyện (1967)--
                                                                   đêm dài một đời (1968)-- phá núi )1968) --
                                                                   người đá (1968) -- anh em (1970) --thơ cao tần
                                                                   (nxb bút lửa/ 1977 -- tái bản nhiều lần)
                                                                   thư về bloomington / illinois (tác giả xuất bản)
                                                                   letter to bloomington (1990)  ...

    (tiếp theo + hết)

Bây giờ, chẳng một người yêu thơ nào; không biết Cao Tần là bút hiệu khác của nhà văn Lê tất Điều. Nhưng khi tiếng thơ xuất hiện lần đấu tiên trên Bút lửa (1977); thì, câu hỏi; 'Cao Tần là ai?'  đã được nhiều người hỏi nhau.  Ghi nhận về hiện tượng thơ Cao Tần-- những ngày đấu -- ký giả Mặc Lâm, đài phát thanh RFA, viết:

"  ... tập thơ Cao Tần nhanh chóng được độc giả hải ngoại nồng nhiệt đón nhận vào những ngày đầu tiên của người Việt tha hương; đặc biệt là những người từng phục vụ trong quân đội [VNCH]. Trong Cao Tần  , người đọc thấm thía nỗi buồn của những kẻ chiến bại.  Tâm lý thua cuộc là mợt tâm lý bi thảm nhất ,sau chiến tranh.  Nỗ buồn đeo đẳng như bị ma ám + với đời sống mới lạ lẫm; đã kéo người ta lại với nhau, như một yếu tố khởi đầu của tinh bầy đàn.  Ngồi lại để chia sẻ mọi thứ, từ kỷ niệm cho đến buồn phiền.  Từ đời sống thường nhật bấp bênh; cho đến những ước ao hoang 
tưởng ..."


                                   " Dăm thằng khùng họp nhau bàn chuyện lớn
                                         gánh sơn hà toan chất thử trên vai
                                         chuyện binh lửa anh em chừng cững ớn
                                         dọn tinh thần cưa nhẹ đỡ ba chi
                                     ...
                                     Một tráng sĩ vung ly cười ngão mạn
                                         nửa đời xưa ta trấn thủ lưu đồn
                                         nay đất khách kéo lê đời rất nản
                                     ta tính về sẽ vượt suối trè non ...
                                         ...
                                         Một tráng sĩ vô êm chừng sáu cối
                                         Thần Tự do giờ đứng ở nơi nào?
                                         ta muốn đến leo lên làm đuốc mới
                                         tự đốt mình cho lửa sáng xem sao ...

                                         Thần Tự do giô hoài cạy đuốc lạnh
                                         ta tiếc gì 5 chục ký xương da
                                         sẽ làm đuốc soi tìm trong đáy biển
                                         những oan hồn ai bỏ giữa bao la...

                                          Bình minh tới một chàng bừng tỉnh giấc
                                          thấy chiến trường la liệt xác anh em
                                          5 tráng sĩ bị 10 chai quất gục
                                          đời tha hương coi bộ vẫn êm đềm

                                          Sàn gác trọ những tâm hồn bão nổi
                                          những hào hùng uất hận gối lên nhau
                                          kẻ thức tỉnh ngu ngơ nhìn nắng mới
                                          ta làm gì cho hết nử đời sau?

                                          TA LÀM GÌ CHO HẾT NỬA ĐỜI SAU / thơ CAO TẦN

Cõi-giới thơ Cao Tần không chỉ đặc biệt dành cho những người lính miền Nam [VNCH] trong tâm bão cuộc đổi dời tháng 4 -1975; mà, thơ ông còn như những đợt sóng lớn, tỏa rộng, báo trùm thân phận đa số người Việt tỵ nạn.  Đặc biệt; ông giễu cợt, hài hước chính ông; một tgrong những người tỵ nạn đầu tiên phải lìa xa đất nước; làm lại cuộc đời từ số không:


                                        Mai mốt anh về có thằng túm hỏi
                                           mày qua bên Mỹ học được 'củ' gì
                                           muốn biết tài nhau đưa ông cây chổi
                                           nói mầy hay ông thượng đẳng 'cu-li'
                                           ông rửa bát 'chì'  hơn bà nột trợ
                                           ông quét nhà sạch hơn em bé ngoan
                                           ngày ngày phóng xe như 'thằng phải gió'
                                           đêm về nằm vùi nước mắt chứa chan
                                           nghệ thuật nói bỗng hóa trò lao động
                                           thằng nào nói nhiều thằng ấy tay to
                                           tiếng mẹ đẻ thường chỉ dùng'chửi đổng'
                                           hay những đêm sấu tí toáy làm thơ
                                        
                                              MAI MỐT ANH VỀ/ thơ CAO TẦN

  hoặc:

                        
                                           Trong ví ta này chứng chỉ tại ngũ
                                            mất nước rồi còn hiệu lực hơi lâu
                                            chiều lưu lạc chợt thương tờ giấy cũ
                                            tái tê cười: giờ gia hạn nơi đâu?

                                            Trong ví ta này một thẻ căn cước
                                             hình chụp ngây ngô rất mực 'cù lần
                                        da xám ngoát như bị đời nhúng nước
                                             má hóp vào như cả tháng không ăn
                                         ...
                                        Hình căn cước anh nào àm chẳng xấu
                                            tên chụp hình như một lão tiên tri
                                            triệu mặt ngây ngô bàng hoàng xớn xác
                                            cùng đến một ngày gãy đổ phân ly
                                             ...
                                            Quanh mình xôn xao chuyện thay 'quốc tịch'
                                             ngậm ngùi bày dăm giất cũ coi chơi
                                             thời cũ ố vàng, rách rời mấy mảnh
                                             xót xa đau như mình bỗng qua đời

                                             Hỡi kẻ trong hình mặt xanh, mày xám
                                             người sắp thành tên mọi Mỹ rồi ư
                                             hỡi thằng chiến binh một đời dũng cảm
                                             mày lang thang đất lạ đến bao giờ

                                             Ôi trong ví mỗi người dân mất nước
                                             còn một oan hồn mặt mũi ngu ngơ
                                             ôi trong trí những anh hùng thuở trước
                                             còn dẬy lên những buổi tung cờ.

                                             CẢM KHÁI/  thơ CAO TẦN


Đó là dăm bài thơ phản ảnh phong cách (chữ+ nghĩa) ;hay, 'vô cùng thượng thừa'; đã được ấn chứng của Kiều Phong/ Lê tất Điều, qua những bài phiếm của họ Lêcủa thời trước 1975; ở quê nhà; cũng như sau đó, ở hải ngoại. *
---
*   Lê tất Điều cho biết: 'Kiều Phong là bút hiệu chung của nhiều người, trên nhật báo Độc lập (ở Sài gòn trước 1975); cũng như thời ông cộng tác với tờ báo của Trần Dạ Từ.  ( Kiều Phong là mợt nhân vật trong truyện chưởng của Kim Dung).
 ( Chú thích: DTLê).

vì,  Cao Tần hay Kiều Phong là 2 khiá cạnh tài hoa khác của một Lê tất Điều, nhà văn.

 Lê tất Điều, nhà văn của thượng thừa, tình cảm thao thiết chân thật; nên, trong cõi-giới thơ Cao Tần cũng có những bài in dậm chân dung Lê tất Điều.  Thí dụ, bài 'Thư quê nhà' :


                                            Gửi cho anh vài sợi tóc mẹ già
                                               rụng âm thầm trên hiên chiều hiu quạnh
                                               (nuôi một bầy con cuối đời vẫn lạnh)
                                               cho anh hôn ơn nặng một thời xa ...
                                               ...
                                               Gửi cho anh viên sỏi nhỏ bên đường
                                               anh sẽ đọc ra trăm nghìn lối cũ
                                               gửi cho vài nhánh cỏ quê hương
                                               anh sẽ đọc đất trời ta đã thở ...

                                               Và gửi cho anh một tờ giấy trắng
                                                thấm nước trời quê qua mái dột đêm mưa
                                               để anh đọc : mênh mông đời lạnh vắng
                                               em tiếc thương hoài ấm áp gối chăn xưa ...


    hoặc:

    
                                                Chú nào ngồi hiên nhà ta chiều nay
                                                nghe mưa Sài gòn rạt rào thơm mát
                                                sau một ngày nắng lóa 9 tầng mây
                                                những mái tôn mưa cười ran hạnh phúc

                                                Chú có biết yêu thương vai nụ hồng
                                                đã thắm tươi trên giàn che cổng gỗ
                                                những giọt trong veo từ từ cõi vô cùng
                                                vỗ rộn ràng vui trên từng lá nhỏ

                                                Chú nào đêm nay kê đầu gối đó
                                                thở hương nồng hạnh phúc đẫm không gian
                                                có biết nói nghìn năm sau vẫn nhớ
                                                vẫn 2 vai êm ấm mãi ơn nàng 

                                                CHÚ NÀO NGHE MÁI TÔN MƯA/  thơ CAO TẦN


Đời sống vốn là dòng sông chảy xiết; sau hơn 40 năm ở xứ người; tình cảnh người tỵ nạn Việt nam, đã khác xa.  Mỗi khi nhìn lại; thơ Cao Tần chính lá ký ức, tấm gương phản chiếu đỜi sống, tâm tư... của [một] giai đoạn khó khăn, nhọc nhằn đó, vậy . []

du tử lê
CALIFORNIA, THÁNG 9- 2016)