Thứ Năm, 24 tháng 5, 2018

" Văn Cao: Một thiên tài bị lưu đày"/ bài viết: Trần Mạnh Hảo - www.danluan.com/

    Trần Mạnh Hảo: 

    " Văn Cao: Một thiên tài bị lưu đày"

  • Bởi Khách
    24/01/2013
    1 phản hồi
         

    Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...             
    *
    “Trong âm nhạc, Văn Cao sang trọng như một ông hoàng. Trên cánh đồng ca khúc, tôi như một đứa bé ước mơ mặt trời là con diều giấy thả chơi. Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi la đà đi giữa cõi con người. Anh cứ bay và tôi cứ chìm khuất. Bay và chìm trong những thân phận riêng tư...” - Trịnh Công Sơn.
    Năm 2013 này là năm kỷ niệm 90 năm ngày sinh của thiên tài văn nghệ Văn Cao - người đã tự lưu đầy mình vào vĩnh cửu bằng ba tài năng lớn: hội họa, thi ca và âm nhạc. Văn Cao nhà cải cách tiền phong cả ba nghệ thuật: hội họa, âm nhạc và thi ca. Bài này chỉ nói về kiếp nhạc của Văn Cao.
    Không đợi khi xuân đến, tết về như dịp này, chúng tôi mới nghe lại bản nhạc bất hủ: “Mùa xuân đầu tiên” Văn Cao khởi viết cuối tháng 12-1975, hoàn thành trong dịp tết Bính Thìn năm 1976.
    Đây là bài hát có số phận đặc biệt nhất trong cuộc đời sáng tác của Văn Cao. Đây cũng là bài hát mang nhiều tâm trạng đối lập, hòa trộn nước với lửa: vui ít, buồn nhiều, mừng ít, tủi nhiều, hoan ca ít, bi ca nhiều, tha thiết ít, nghẹn ngào nhiều, bâng khuâng ít, đau đáu nhiều, tự sự ít, ai oán nhiều, mê say ít, thở than nhiều, cứng cỏi ít, run run nhiều, da diết ít, nỉ non nhiều, cười ít, khóc nhiều, sum họp ít, cô đơn nhiều, yêu thương ít, đau thương nhiều, gặp gỡ ít, bơ vơ nhiều...
    Hầu như tất cả các trạng thái tình cảm trái ngược nhau của con người đều có trong bản nhạc kỳ lạ này: ai vui hát lên thì nghe vui, ai buồn hát lên thấy buồn não ruột, ai đau khổ hát lên thấy một trời đau khổ, ai sầu thảm hát lên thấy cả một thế giới sầu thảm đang đồng cảm cùng mình…
    Nghe đi nghe lại bản nhạc này, ta thấy xuất hiện trong tâm trí mình rất nhiều tâm trạng không thể dùng ngôn ngữ diễn đạt. Nếu bạn đã hoặc đang đi qua bể khổ trần gian, nghe bản nhạc “Mùa xuân đầu tiên” bạn sẽ cảm thương, nhờ nước mắt diễn đạt nỗi lòng mình.
    Riêng lời bài hát đã là một bài thơ hay:
    Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
    Mùa bình thường mùa vui nay đã về
    mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
    Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
    một trưa nắng cho bao tâm hồn.
    Rồi dặt dìu mùa xuân theo én về
    Người mẹ nhìn đàn con nay đã về
    Mùa xuân mơ ước ấy đang đến đầu tiên
    Nước mắt trên vai anh, giọt sưởi ấm đôi vai anh
    Niềm vui phút giây như đang long lanh.
    ôi giờ phút yêu quê hương làm sao trong xuân vui đầu tiên.
    ôi giờ phút trong tay anh đầu tiên một cuộc đời êm ấm.
    Từ đây người biết quê người
    Từ đây người biết thương người
    Từ đây người biết yêu người.
    Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về
    Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.
    Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu
    với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
    một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông.
    Rất nhiều chim én, nhiều nắng gió, có nước mắt vui gặp gỡ của đàn con nay đã về, có cuộc đời êm ấm... nhưng sao hình ảnh “khói bay trên sông, gà đang gáy trưa trên sông” lặp lại hai lần làm không gian của “Mùa xuân đầu tiên” xa xôi, bơ thờ thế, xao xác thế, hoang vắng thế, hiu quạnh thế, đơn độc có phần cô đơn thế? Chợt nhớ nỗi buồn thiếu quê hương của Thôi Hiệu trong Hoàng Hạc lâu xưa, cũng một tiếng gà trưa Văn Cao nay, một khói sóng trên sông xa Văn Cao nay, u hoài khôn xiết: “một trưa nắng thôi hôm nay mênh mông”:
    Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
    (Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu?
    Trên sông khói tỏa, sóng gợn, khiến buồn lòng người!)
    Chợt nhớ Lưu Trọng Lư “thời con nai vàng ngơ ngác” với câu thơ tiền chiến xưa sao rất đồng cảm với nỗi vui não nùng Văn Cao nay: “Tiếng gà trưa xao xác não nùng”.
    Bài hát như một điệu valse bằng nước mắt; sự thướt tha, quý phái của một giai điệu bi thương; sự sang trọng của ngậm ngùi, day dứt; sự lãng mạn của một phiêu linh, xô dạt; sự mê đắm của một vu vơ; sự đoan trang của cái đẹp lỡ thì; sự liêu trai của ngơ ngác, đìu hiu; sự dịu dàng của nỗi thương đau, xót nhớ...
    Chừng như đã mấy chục năm chiến tranh liên miên chưa từng có xuân về? Chừng như gần hết cả đời người bận chuyện đấu tranh giai cấp giành giật miếng ăn chưa từng thấy chim én báo xuân? Chừng như đã rất lâu rồi sự căm thù trùm lên xã hội không còn ai biết thương người? Chừng như đã lâu lắm rồi ta tha hương trên chính quê hương mình? Chừng như suốt mấy cuộc chém giết kinh hoàng mạo danh cách mạng, không còn ai biết yêu con người? Chừng như mấy mươi năm rồi con người đã quên mình còn nước mắt? Chừng như lâu rồi tâm hồn người không được sưởi nắng mùa xuân?
    Và chừng như lâu lắm rồi Văn Cao quên không còn nhớ mình từng là nhạc sĩ lãng mạn đã có cả chục ca khúc vào hàng kiệt tác? Chừng như cây đàn piano cũ kỹ do Hội nhạc sĩ Việt Nam cho Văn Cao thuê mỗi tháng 07 đồng, (thuê căn gác chật hẹp cũ kỹ 108 Yết Kiêu 15 đồng) đã bị thời gian phủ bụi đầy rêu mốc? Chừng như đôi tai Văn Cao đã bị súng đạn thời cuộc, sự hò hét xướng ca hò vè phục vụ chính trị một thời làm ù đặc, khi tất cả các kiệt tác âm nhạc của ông đều bị chế độ Việt Nam dân chủ cộng hòa (Miền Bắc) cấm hát, trừ bài quốc ca (kể cả thơ Văn Cao cũng bị cấm)?
    Và chừng như toàn bộ vết thương cuộc đời Văn Cao, vết thương cuộc đời dân tộc, bỗng mượn ngón tay ông mà nhỏ xuống cây đàn piano những giọt nước mắt giai điệu, khiến những vết thương chợt mở miệng ca hát: “Mùa xuân đầu tiên”
    Chừng như nỗi niềm ngày 30 tháng tư năm 1975: “có một triệu người Việt Nam vui thì cũng có một triệu người Việt Nam buồn” (lời ông cựu thủ tướng Võ Văn Kiệt) đã hiện ra nơi bài hát: “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao? Trong bài hát ấy, kỳ lạ thay, tôi nghe có một nửa nước vui thắng trận trào nước mắt và một nửa nước buồn thua trận cũng trào nước mắt, chợt ôm chầm lấy nhau mà quằn quại, mà dằn vặt giằng xé nhau, cười khóc mếu máo bầm dập nhau, nên vui ấy sao buồn hiu hắt thế, lênh đênh phiêu bạt thế, nức nở nghẹn ngào thế?
    Có lẽ, chính vì những điều trên mà kiệt tác “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Cao sau khi được báo “Sài Gòn giải phóng” in trước tết Bính Thìn: 01-01-1976, được hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam mấy lần liền bị cấm suốt 24 năm (1976-2000). Sinh thời, Văn Cao không được nghe, được nhìn thấy đứa con tinh thần lớn lao này của mình được trình diễn. Sau khi ông mất (1995) 05 năm, “Mùa xuân đầu tiên” mới ra khỏi nhà tù kiểm duyệt của chế độ.
    Xin quý bạn đọc hãy nghe nhà thơ, họa sĩ Văn Thao, con trai trưởng của nhạc sĩ Văn Cao kể sơ qua về sự ra đời của bài hát này:
    “Sau khi bài "Tiến về Hà Nội" ra đời cuối năm 1949, bố bị đưa ra kiểm điểm và bị phê phán khắp nơi. Từ đó bố đã thề, sẽ không sáng tác ca khúc chính trị nữa... Nhưng rồi những năm tháng sau này đôi lúc hứng khởi bố vẫn sáng tác. Vẫn biết có sáng tác ra cũng chẳng được dàn dựng...
    Tôi còn lưu giữ được một số tác phẩm của ông sáng tác sau này nên tôi hiểu những điều ông nói. Giá như ông không bị rơi vào cái nạn “Nhân văn” và bị “vô hiệu hoá” mất 30 năm thì tôi chắc rằng ông sẽ còn sáng tác được thêm nhiều tác phẩm cho nền âm nhạc Việt Nam.
    Những ngày tháng sau đó, căn gác nhỏ nhà Văn Cao không lúc nào ngớt khách. Những khuôn mặt bừng sáng. Những nụ cười rạng rỡ. Những giọt nước mắt sung sướng bên những ly rượu tràn đầy và có cả những khuôn mặt, một thời không dám bước chân đến căn gác nhỏ này vì sợ “bị vỗ vai”.
    Văn Cao đã sáng tác xong ca khúc MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN vào đúng dịp tết Bính Thìn.” - Trích bài “Văn Cao với ca khúc “Mùa xuân đầu tiên” của Văn Thao in trên “Tạp chí Sông Hương” số 179-180
    Văn Thao tiết lộ tiếp rằng, bài hát bị cấm ở Việt Nam nhưng bên nước Liên Xô người ta lại dịch sang tiếng Nga, phát trên Đài phát thanh Matxcova:
    “Nhưng cũng thật bất ngờ (không hiểu bằng con đường nào), trong cái năm 1976 ấy MÙA XUÂN ĐẦU TIÊN đã được in ở nước Nga và được Liên Xô trả nhuận bút cho tác giả 100 Rúp. Văn Cao phải viết giấy uỷ quyền qua sứ quán để con gái ông đang học bên đó lĩnh hộ. Ông bảo con gái: “Con cứ lấy mà tiêu, ở nước mình bao lâu nay bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu.””
    Qua tiết lộ trên của anh Văn Thao, con trưởng nhạc sĩ thì nhà ông Văn Cao trên căn gác nhỏ 108 Yết Kiêu suốt một thời luôn luôn có công an ngầm canh gác, ai đến đều “bị vỗ vai” hỏi tên tuổi, xem đến nhà tên phản động “Nhân Văn” làm gì? Người viết bài này sau năm 1975 có lần đến thăm nhạc sĩ Văn Cao để cho ông mượn cuốn tiểu thuyết vĩ đại: “Giờ thứ 25” của văn hào Romania Constantin Virgil Gheorghiu (1916-1992) mang ra từ Sài Gòn như đã hứa, cũng đã từng bị công an mật “vỗ vai” hỏi đi đâu? Bèn bảo: đi phỏng vấn tác giả “Quốc ca” viết bài in báo cũng bị cấm à? Người “vỗ vai” hất đầu cộc lộc: “Vào đi”.
    Người ta đã cầm giữ Văn Cao như một tù nhân lương tâm bị giam lỏng, một thứ nhà tù tại chỗ, nhà tù nhân dân kiểu xã hội chủ nghĩa. Rằng Văn Cao bị vô hiệu hóa suốt 30 năm vì tội Nhân Văn - Giai Phẩm. Rằng suốt 30 năm ấy, nhạc sĩ Văn Cao sống rất nghèo khổ, “bố có được biết đến đồng nhuận bút tác phẩm nào đâu”.
    Chúng ta lại được nghe người con trai thứ của nhạc sĩ Văn Cao, nhà thơ Nghiêm Bằng kể sơ qua về sự ra đời của “Mùa xuân đầu tiên”:
    “Đó là một đêm vào giữa tháng 12-1975. Chúng tôi đang sống với cha mẹ trong ngôi nhà số 108 Yết Kiêu. Mùa đông Hà Nội rét tê tái. Cha tôi đã từ lâu rồi không đàn. Vậy mà trong đêm ấy, tôi nghe có tiếng chân nhè nhẹ lần từng bước từ phòng trong ra gần chiếc đàn piano - đối diện với chiếc đivăng tôi đang ngủ.
    Một giai điệu khe khẽ vang lên, nó được đàn bởi một bàn tay phải. Cũng phải nói thêm là cha tôi đã đàn trên chiếc đàn vốn được Hội Nhạc sĩ VN cho thuê lại với giá 7 đồng rưỡi một tháng (lương tôi hồi đó là 63 đồng, còn tiền thuê nhà là 15 đồng); từ ngày kỷ niệm 30 năm Tiến quân ca (1974), chiếc đàn mới được tặng hẳn cho cha tôi thì cha lại rất ít có dịp dùng đến.
    Bài hát đã được báo Sài Gòn Giải Phóng số năm mới 1-1-1976 in trang trọng ở bìa 4 và thu thanh ngay sau đó, được phát trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, nếu tôi không nhầm thì do ca sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam trình bày. Bài hát được phát khoảng mươi lần trong chừng một tháng (hồi ấy ca khúc được truyền bá chủ yếu qua sóng phát thanh), rồi không hiểu sao lặng lẽ chìm đi, như thể bị quên lãng.
    Như mọi lần, trong suốt mấy chục năm, cha không tỏ ra bực bội gì, chỉ hơi buồn thôi. Cha tôi nói chắc chắn bài hát sẽ có ngày được hát lại và mọi người sẽ yêu nó. Và như mọi lần, cha tôi lại đúng. Chỉ có điều lúc đó cha tôi không còn nữa. Khi bài hát lần đầu tiên được phát trên sóng truyền hình Việt Nam năm 2000, cha tôi đã mất được năm năm.” - Nhà thơ NGHIÊM BẰNG - THU HÀ ghi
    Nhà văn Vũ Thư Hiên, trong tác phẩm “Đêm giữa ban ngày”, kể lại lời Văn Cao nói với ông về Tố Hữu hay Trường Chính chủ trương đánh “Nhân Văn”, kể lại chuyện ông lãnh tụ Trường Chinh cho gọi Nguyễn Tuân và Văn Cao lên cảnh cáo sau vụ “Nhân Văn – Giai Phẩm” < *1 *> (xem thú thích dưới bài)
    Xuân Diệu đấu tố Văn Cao là trùm phản động, là đầu sỏ chống cộng < *2*> (xem chú thích cuối bài)
    Với tất cả tội trạng tày trời do Xuân Diệu đấu tố Văn Cao công khai trên báo chí, tội của Văn Cao có khi còn to hơn tội của bà nhà văn Thụy An và ông Nguyễn Hữu Đang (cùng bị án 15 năm tù giam, 05 năm quản thúc vì hai người này bị cho là đầu sỏ gây ra vụ án chống đảng “Nhân văn – giai phẩm”). Sở dĩ Văn Cao thoát tù mọt gông vì ông chính là tác giả Quốc ca.
    Ngay sau vụ “Nhân Văn”, nhà nước cộng sản tính lấy một bài hát “Cách mạng tiến quân” của Đỗ Nhuận làm bài quốc ca, thay bài “Tiến quân ca” của Văn Cao nhưng việc không thành. Mấy năm sau, năm 1981 nhà nước mở cuộc thi quốc ca trong suốt hai năm, quyết thay bài hát của tên phản động đang bất đắc dĩ dùng làm quốc ca; nhưng mấy trăm bài dự thi thay đổi quốc ca, không bài nào được chọn (vì quá tẻ nhạt) để thay thế bài ca lịch sử của Văn Cao.
    Nếu không có bài quốc ca che chắn, có lẽ Văn Cao có thể đã chết trong tù Cộng sản? Một Văn Cao mềm mỏng, nồng nàn, say đắm, lãng mạn tận cùng (với các ca khúc bất diệt: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân”, “Trương Chi”, “Thiên Thai”...) trong một Văn Cao tỉnh bơ, quyết liệt, lạnh băng, thần kinh thép, thậm chí dữ dằn, sắt máu: “thề ăn gan uống máu quân thù”... “đường ta đi xây xác quân thù”... đến cùng tận khi một mình một xe đạp, đến tiệm hút thuốc phiện ở Hải Phòng, dương khẩu súng lục số 7165 của tổ chức (do Nguyễn Đình Thi trao) nhắm thẳng vào đầu Đỗ Đức Phin (bị Việt Minh cho là tay sai của Nhật) tuyên án từng lời đanh thép: tao bắn mày vì mày là Việt gian tay sai giặc Nhật! Đoạn, Văn Cao bóp cò súng cái đoàng, đầu Đỗ Đức Phin nức toác, tóe máu; rồi ông thủng thẳng nhét súng vào thắt lưng, đủng đỉnh đạp xe đi như đang dạo mát...
    Sau này, cả cuộc đời còn lại, Văn Cao vô cùng ân hận vì đã bắn chết một con người là Đỗ Đức Phin. Đến nỗi, sự sám hối quằn quại khôn xiết này đã khiến ông không còn dám gõ lên piano những giai điệu lãng mạn tuyệt đẹp thuở ban đầu kiểu “Suối mơ”, “Bến xuân”... nữa; vì ông có cảm giác tay mình còn nhuốm máu đồng loại. Thế mà, có những kẻ vô lương tâm, can dự vào việc giết chết hàng chục triệu đồng bào vô tội của mình mà vẫn vênh mặt tự hào, chẳng một chút ăn năn sám hối!
    Nghe nói Văn Cao còn bắn sẩy (bắn hụt) hai mật thám Nhật tại Hà Nội là Cung Đình Vạn và Võ Văn Cẩm (không biết có phải vì ông căm thù quân Nhật từng giết bố vợ mình là cụ Nghiêm Xuân Huyến - một chủ báo, chủ xuất bản lớn Hà Nội từng bị Nhật thủ tiêu trong tù?). Một con người như thế không dễ gì thỏa hiệp, đầu hàng, thà chết cho điều mình tin yêu hơn là phải sống như một chiếc bóng trong suốt hơn ba mươi năm bị giam lỏng trong án tù thả rông: “Nhân văn - Giai phẩm”...
    Có lần, Văn Cao kể cho người viết bài này (trong một bàn rượu đơn sơ “cuốc lủi”, lạc rang, đậu phụ mắm tôm, với bạn tâm giao: nhà văn Mạc Phi, nhà văn Sơn Tùng...) rằng: “Sau vụ Nhân Văn, anh em “chống đảng” chúng tôi, ngoài mấy người bị án tù 15 năm, tất cả đều bị đi cải tạo lao động trên Tây Bắc. Trong chặng đường đi đày trên tàu hỏa, dù tôi đang đau dạ dày nặng sắp chết vẫn bị điệu đi, mấy lần tôi đã toan nhảy xuống đường tự tử khi tàu chạy, nhưng hình bóng đàn con lóe lên trong đầu như ánh chớp, hình bóng bà Băng (bà Nghiêm Thúy Băng – phu nhân nhạc sĩ) còng lưng nuôi đàn con bơ vơ mất bố, tôi liền bỏ ý định tự sát để tiếp tục sống hèn mà trở về nuôi con...”
    Có lẽ men “cuốc lủi” làm Văn Cao cảm động, tay ông run run, kể tiếp: “Thảm nhất là khi ở nơi cải tạo lao động, đến bữa ăn, cứ thấy mình ngồi bàn nào là anh em (cùng bị đi đày lao động) lại tìm sang bàn khác ngồi, không ai chịu ngồi cùng bàn ăn với kẻ đầu sỏ Nhân Văn, đến nỗi chị nuôi trại đi đày phải xẻ một suất cơm ôi cá thối cho tôi ngồi một mình một bóng mà ăn cho khỏi chết đói chứ nào có ngon lành gì...”
    Ngày 30 tháng tư 1975, ngày kết thúc 30 năm chiến tranh, theo mấy người con và mấy người bạn thân của nhạc sĩ kể lại, Văn Cao im lặng không nói gì, không reo mừng hò hét vỗ tay vỗ chân rầm rập trong hàng nghìn ca khúc khẩu hiệu điếc tai như phần lớn đồng nghiệp đã hét. Có lẽ, ông nghĩ rằng, nhờ chiến thắng này mà có thể thân phận “tù tại ngoại” của ông cũng sẽ được giải phóng, thoát án giam lỏng nhân văn chăng?
    Dồn nén khát vọng tự do mấy chục năm, dồn nén khát vọng hòa bình mấy chục năm, dồn nén khát vọng mùa xuân mấy chục năm, dồn nén khát vọng thoát khỏi “nhà giam tư nhân” mấy chục năm, dồn nén khổ đau buồn hận mấy chục năm, dồn nén oan ức bị chà đạp mấy chục năm, chợt một sáng cuối đông, đầu xuân năm 1976, vỡ òa cảm xúc, vỡ òa nước mắt nhỏ giọt yêu thương, nhỏ giọt mật đắng nghẹn ngào lên từng phím đàn thành giai điệu Văn Cao “Mùa xuân đầu tiên” chăng?
    Thành ra, “Mùa xuân đầu tiên” chính là lời reo vui của đắng cay, niềm rưng rưng kiếp nạn giải thoát, nỗi hoan ca ngục tù gặp nắng gió mênh mông...?
    Xin xem thêm tài liệu tổng kết vụ án “Nhân Văn - Giai Phẩm” (NVGP) của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã in công khai trên rất nhiều trang mạng, để thấy thân phận của Văn Cao suốt ba mươi năm dưới chế độ “ưu việt gấp triệu lần tư bản” thê thảm là dường nào < *3 *> (xem chú thích cuối bài)
    Qua lời tự thú của vị đại tá công an phụ trách theo dõi văn hóa văn nghệ trên, ta thấy số phận kẻ trọng tội NVGP bị lưu đày trong chính căn phòng mình, trên chính quê hương mình của Văn Cao và các bạn hữu NVGP của ông hầu như đã bị tước quyền công dân, tước hết quyền sáng tạo nghệ thuật, bị “giam tại nhà”, bị đấu tố, bị làm nhục, bị cải tạo lao động hà khắc; không khác mấy so với những kẻ thua trận Việt Nam cộng hòa bị tù tội trong danh phận học tập cải tạo sau năm 1975...
    Không thấu hiểu hoàn cảnh sống bị chà đạp, bị lăng nhục, vùi dập, bị đói khổ, bị mất hết tự do nơi Văn Cao suốt ba mươi năm, chúng ta sẽ không cảm nhận được hết nỗi vui của người tù vừa tìm thấy một khe hở gió nắng, được vụt lóe với khói trên sông, với tiếng gà trưa hiu quạnh trong nỗi đau nghẹn ngào “Mùa xuân đầu tiên” này...
    Chính nỗi đau buồn kia đã đẩy Văn Cao tới chân tường của cô đơn, lưu đày ông vào ly rượu và khói thuốc. Chứng nghiện rượu đã giúp Văn Cao phần nào quên đi thực tại thê thảm, giúp ông có nghị lực để sống qua thời thương khó. Nhiều đêm, không ngủ được, thức khuya để tìm ảo giác trong men rượu, thấy bóng mình in trên tường, Văn Cao chợt rùng mình hoảng sợ, ngỡ là công an mật nửa đêm xuyên tường đến hỏi cung ông, suýt nữa làm ông co cẳng ù té chạy...
    Suốt một đời Văn Cao không chạy thoát khỏi bóng mình, không thoát khỏi kiếp lưu đầy thiên bẩm của một nghệ sĩ lớn mà thời đại dường như không đủ chỗ cho mình tỏa bóng. Đành thu bóng lại như con mèo nghệ thuật nằm cuộn tròn trong đống tro tàn cải tạo tại gia mà ăn năn hối cải về tội chống đảng của mình.
    Đâu rồi chàng trai Văn Cao yêu đời, yêu người, tự do tự tại, thanh bình, phiêu lãng miền thiên giới, thần tiên sống lẫn con người, lãng mạn tới tận cùng chân trời góc bể trong những ca khúc tiền chiến tuyệt tác? Xin cùng nghe lại bản nhạc đầu tay tuyệt diệu của trang thiếu niên 16 tuổi, và xem lại lời của ca từ “Buồn tàn thu”:
    Ai lướt đi ngoài sương gió,
    Không dừng chân đến em bẽ bàng,
    Ôi vừa thoáng nghe em mơ ngay bước chân chàng,
    Từ từ xa đường vắng.
    Đêm mùa thu chết, nghe mùa đang rớt rơi theo lá vàng.
    Em ngồi đan áo lòng buồn vương vấn, em thương nhớ chàng.
    Người ơi còn biết em nhớ mong,
    Tình xưa còn đó xa xôi lòng.
    Nhờ bóng chim uyên, nhờ gió đưa duyên
    Chim với gió bay về, chàng quên hết lời thề.
    Áo đan hết rồi, cố quên dáng người,
    Chàng ngày nào tìm đến?
    Còn nhớ đêm xưa kề má say sưa
    Nhưng năm tháng qua dần, mùa thu chết bao lần.
    Thôi tình em đấy, như mùa thu chết rơi theo lá vàng.
    “Buồn tàn thu” một nỗi buồn đẹp, trong veo dù tình em tưởng “chết rơi theo lá vàng”. Cái buồn của tình yêu “em thương nhớ chàng” Văn Cao kết hợp hồn nhạc ngũ cung với chất khải huyền Thánh ca Thiên Chúa giáo rất cổ thi; như người chinh phụ nhớ chinh phu “Chinh phụ ngâm” Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, như thần thiếp nhớ quân vương “Cung oán ngâm khúc” Nguyễn Gia Thiều, Kiều nhớ Thúc Sinh trong mùa thu chết “Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san” Nguyễn Du thuở lục bát “người lên ngựa, kẻ chia bào” của “bụi hồng dặm cuốn chinh an”...
    Cái buồn của con người gặp cái buồn của trời đất, rất “mang mang thiên cổ sầu” Văn Cao. Chàng thiếu niên 16 tuổi đã ký thác đời mình trong vàng thu lá chết, lấy lá vàng mùa thu làm chiếc diều của của nghệ thuật muôn đời siêu thoát. Chàng tự lưu đày mình vào mùa thu một cách tự nguyện. Chàng chết đuối theo vàng thu chìm nghỉm để bất tử trong giai điệu du dương, sang trọng, như danh họa Nga gốc Do Thái Levitan phó linh hồn cho mùa thu Nga vĩnh cửu sơn dầu...
    Ngay từ 16 tuổi, bằng sự lãng mạn tận cùng qua “Buồn tàn thu”, Văn Cao đã sung sướng được đắm chìm vào vương quốc Cái - Đẹp. Chàng dùng nỗi buồn làm rượu, làm lương thực hằng sống nuôi dưỡng những giai điệu du dương lãng mạn đẹp nhất của nền tân nhạc Việt Nam thuở ban đầu trong năm kiệt tác vô song: “Buồn tàn thu”, “Suối mơ”, “Bến xuân” (lời Phạm Duy) “Trương Chi” và “Thiên Thai”...
    Dường như năm bản nhạc lãng mạn trên là năm bản thánh ca của tâm hồn con người, đưa ta thoát mọi phàm tục để được thánh hóa, được thăng hoa tới muôn vàn mê đắm, thoát khỏi hận thù mà bất tử với thương yêu? Bản tình ca của nỗi buồn, của Cái - Đẹp ban sơ được hát lên cùng thiên giới thiêng liêng niềm hoài niệm trần thế; nơi suối nguồn róc rách mê ly chảy ra từ năm dòng kẻ nhạc Văn Cao, theo giai điệu thiên thần réo rắt thanh tao kia mà rót vào hồn ta hơi thở đất trời, rót vào tai ta chất men say của niềm ham sống, của tin yêu và hoài vọng. Âm nhạc Văn Cao nâng cánh con người bay lên cõi đẹp, cõi mê, cõi thần tiên, cõi hằng sống là vì thế chăng?
    Chừng như Văn Cao đã ngầm ký gửi thân phận mình vào hai ca khúc lãng mạn một cách siêu nhiên có phần kỳ bí, huyền nhiệm: “Thiên thai” và “Trương Chi”, vừa mang phong cách cao sang, nền nã, cổ điển của nghệ thuật Apollon - thần ánh sáng và thi ca, vừa mang phong cách ma mị, xuất thần, cuồng si của nghệ thuật Dionysos - thần rượu nho (theo quan niệm về bi kịch Hy Lạp của Nietzsche)?
    Văn Cao, ngay từ độ đôi mươi, đã tự đày ải mình lên miền thiên giới trong đại kiệt tác “Thiên Thai”. Cuộc nhập “Thiên Thai” ấy không chỉ có hai chàng Lưu Nguyễn mà thực ra đã có ba chàng: người tham gia khí muộn vụ thiên hành lên cõi tiên ấy chính là Văn Cao:
    Tiếng ai hát chiều nay vang lừng trên sóng
    Nhớ Lưu Nguyễn ngày xưa lạc tới Đào Nguyên
    Kià đường lên tiên, kìa nguồn hương duyên
    theo gió tiếng đàn xao xuyến
    Phím tơ lưu luyến, mấy cung u huyền
    Mấy cung trìu mến như nước reo mạn thuyền
    Âm ba thoáng rung cánh đào rơi
    Nao nao bầu sương khói phủ quanh trời
    Lênh đênh dưới hoa chiếc thuyền lan
    Quê hương dần xa lấp núi ngàn
    Bâng khuâng chèo khua nước Ngọc Tuyền
    Ai hát trên bờ Đào Nguyên
    Thiên Thai chốn đây Hoa Xuân chưa gặp Bướm trần gian
    Có một mùa đào dòng ngày tháng chưa tàn qua một lần
    Thiên Tiên chúng em xin dâng hai chàng trái đào thơm
    Khúc nghê thường này đều cùng múa vui bầy tiên theo đàn
    Đèn soi trăng êm nhạc lắng tiếng quyên
    đây đó nỗi lòng mong nhớ
    Này khúc bồng lai
    là cả một thiên thu trong tiếng đàn chơi vơi
    Đàn xui ai quên đời dương thế
    Đàn non tiên đàn khao khát khúc tình duyên
    Thiên Thai! Ánh trăng xanh mơ tan thành suối trần gian
    Ái ân thiên tiên em ngờ phút mê cuồng có một lần
    Gió hắt trầm tiếng ca tiếng phách ròn lắng xa
    Nhắc chi ngày xưa đó đến se buồn lòng ta
    Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn quên trần hoàn
    Cùng bầy tiên đàn ca bao năm
    Nhớ quê chiều nào xa khơi Chắc không đường về
    Tiên nữ ơi!
    Đào Nguyên trước Lưu Nguyễn khi trở về
    Tìm Đào Nguyên, Đào Nguyên nơi nao?
    Những khi chiều tà trăng lên
    Tiếng ca còn rền trên cõi tiên
    Văn Cao và hai chàng Lưu Nguyễn đã nhập “Thiên Thai” nghệ thuật. Nơi đó, Cái Đẹp chính là tiên nữ, khởi nguồn mọi xúc cảm hồn người. Nghệ thuật, nói cho cùng KHÔNG VỊ BẤT CỨ ĐIỀU GÌ, vì nó là cái chân thiện mỹ đã được thánh hóa, được đóng dấu thiên giới cao sang. Tột cùng của nghệ thuật là sự thoát tục, sự thăng hoa con người lên những thế giới khác, tâm hồn khác, rung động khác, mê ly khác, ảo diệu khác... do con đò của tưởng tượng chở ta sang bờ bên kia của sự thật, bờ bên kia của thế giới.
    Những giai điệu thần tiên mê ly hết mực Văn Cao đã đưa hồn ta du nhập cùng ba chàng lãng tử Lưu - Nguyễn - Văn vào cõi trời. Thiên Thai ấy, tiên nữ ấy, nghê thường ấy hóa ra không ở đâu xa, lại ở chính nơi hồn ta khi được âm nhạc thiên tài Văn Cao đánh thức...
    Văn Cao hóa thân vào bi kịch nghệ thuật Trương Chi, hay chính hồn chàng Trương Chi đã ám lấy cuộc đời Văn Cao trong một ca khúc hay đến rợn người, hay đến ngờ có ma trong giai điệu du dương chìm lắng, thê lương, rờn rợn liêu trai, khuya khoắt ngồi nghe một mình có thể nổi da gà:
    Một chiều xưa trăng nước chưa thành thơ
    Trầm trầm không gian mới rung thành tơ
    Vương vất heo may hoa yến mong chờ
    Ôi, tiếng cầm ca thu tới bao giờ.
    Lòng chiều bơ vơ lúc thu vừa sang,
    Chập chùng đêm khuya thức ai phòng loan
    Một cánh chim rơi trong khúc nhạc vàng
    Đây đó từng song the hé đợi đàn.
    Tây hiên Mỵ Nương khi nghe tiếng ngân
    Hò khoan mơ bóng con đò trôi
    Giai nhân cười nép trăng sáng lả lơi, lả lơi bên trời
    Anh Trương Chi
    Tiếng hát vọng ngàn xưa còn rung,
    Anh thương nhớ.
    Oán trách cuộc từ ly não nùng.
    Đò trăng cắm giữa sông vắng.
    Gió đưa câu ca về đâu?
    Nhìn xuống đáy nước sông sâu.
    Thuyền anh đã chìm đâu!
    Từng khúc nhạc xa vời
    Trong đêm khuya dìu dặt tiếng tơ rơi.
    Sương thu vừa buông xuống
    Bóng cây ven bờ xa mờ xóa dòng sông
    Ai qua bến giang đầu tha thiết,
    Nghe sông than mối tình Trương Chi
    Dâng úa trăng khi về khuya,
    Bao tiếng ca ru mùa thu.
    Ngoài song mưa rơi trên bao cung đàn
    Còn nghe như ai nức nở và than,
    Trầm vút tiếng gió mưa
    Cùng với tiếng nước róc rách ai có buồn chăng?
    Lòng bâng khuâng theo mưa đưa canh tàn
    Về phương xa ai nức nở và than,
    Cùng với tiếng gió vương,
    Nhìn thấy ngấn nước lấp lánh in bóng đò xưa.
    Đò ơi! Đêm nay dòng sông Thương dâng cao
    Mà ai hát dưới trăng ngà
    Ngồi đây ta gõ ván thuyền,
    Ta ca trái đất còn riêng ta.
    Đàn đêm thâu
    Trách ai khinh nghèo quên nhau,
    Đôi lứa bên giang đầu.
    Người ra đi với cuộc phân ly,
    Đâu bóng thuyền Trương Chi?
    Bi kịch Trương Chi chính là bi kịch của nghệ thuật, bi kịch cuộc đời, hơn nữa là bi kịch của thiên tài và thời đại, bi kịch của Văn Cao và chế độ… Hình như Văn Cao đã đổi vai cho chàng ca sĩ thiên tài Trương Chi trong câu chuyện cổ diễm tình, được kể lại bằng hồn Văn Cao với giai điệu bi ca, khốc ca, hú ca, Mỵ Nương ca?
    Hồn Trương Chi u uẩn, u u trong gió sương vương vấn trên sông, đêm đêm đã lấy đi hết nước mắt nàng Mỵ nương ân hận nghìn đời. Nay hồn ấy, tình đơn phương yêu đến chết ấy lại nhập vào hồn Văn Cao với giai điệu sầu thương, nức nở, lấy đi bao giọt khóc của người nghe nhạc hôm nay.
    Thương thay chàng Trương Chi Văn Cao đã dâng hiến cả tâm hồn và thân xác mình cho tình yêu con người, cho tình yêu thời đại, yêu đến nỗi cuồng điên kiểu Xuân Diệu: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi” nhưng đã bị thời đại đáp lại bằng “cú đớp chính trị” Nhân Văn Giai Phẩm tàn mạt cả một đời.
    Nàng Mỵ Nương cuộc đời, nàng Mỵ Nương thời đại không chấp nhận tình yêu đơn phương tận hiến ấy, yêu và ca hát như con ve tới chết cho nàng, vì nàng, một tình yêu phi điều kiện, phi chính trị. Cũng như Trương Chi, Văn Cao đã bị nàng Mỵ Nương - Thời đại phụ tình, hớp hết hồn chàng, rút hết gan ruột chàng trong các ca khúc kháng chiến bất hủ: “Trường ca Sông Lô”, trong “Tiến quân ca”, trong “Làng tôi”, trong “Tiến vế Hà Nội”, trong “Ngày mùa”… ăn ốc đổ vỏ, rồi nhốt chàng vào mật thất cô đơn như một huyệt mộ của tự do trá hình có tên là căn gác chật hẹp 108 Yết Kiêu, Hà Nội, thuê 15 đồng một tháng (ở tù tại gia mà phải thuê a?)...
    Trương Chi đã yêu, đã chết cho mối tình lý tưởng đơn phương, thân xác tan vào sông nước và hồn hóa thành đá quý làm chén ngọc cho Mỵ Nương gieo nước mắt thương tình thành sông. Văn Cao không ném thân xác mình vào cát bụi để được chết vì yêu như Trương Chi; nhưng linh hồn ông, âm nhạc ông đã đang và mãi mãi sẽ được người đời yêu thương đón nhận. Hồn Văn Cao còn hát mãi tiếng tuyệt vời Trương Chi trên dòng sông âm nhạc, nơi sẽ có hàng nghìn Mỵ Nương xinh đẹp mong ước chàng sống lại để hậu thế được yêu chàng như lời thơ R. Tagore vẽ hộ tình yêu mai sau dành cho chàng Trương Chi - Văn Cao:
    “Nàng ơi / tất nhiên là nàng sẽ ra đời / trong một thế kỷ nào đó / xin nàng tha thứ cho / nếu quả vì tôi kiêu hãnh / vẽ dáng nàng đang đọc thơ tôi / khi trăng rọi im lìm qua khe chữ / tôi biết đêm nay / dưới trăng mờ / nàng thắp đèn chờ / dù nàng biết chẳng bao giờ nhà thơ (nhạc sĩ - chua thêm TMH) đến nữa …” (bản dịch từ tiếng Anh của Cao Huy Đỉnh)
    Tiền bối Văn Cao ơi!
    Âm nhạc sang trọng bậc nhất nước Việt của ông còn sống mãi. Những bài hát rất hay, rất quý phái cao sang đầy chất thánh ca của ông vẫn hằng tụng ca con người, tụng ca Cái Đẹp, như một cứu cánh góp phần cứu chuộc dân tộc ta, đất nước ta đang có cơ bị diệt vong bởi chính sự băng hoại của những tà thuyết phi nhân. Xin được gọi ông bằng tên gọi thường nhật trìu mến nhất mà thế hệ đi sau ông vẫn hằng được gọi thầm tên ông: ANH VĂN; như ngày xưa thi thoảng được hầu rượu ông nơi quán rượu gần rạp xiếc. Vâng, anh Văn suốt một đời sống chết cũng chỉ vì hai chữ Nhân Văn thiêng liêng, cao cả này mà thôi...
    Sài Gòn ngày 23-01-2013
    Trần Mạnh Hảo
    _________________________________

    Phần chú thích:

    Chú thích <*1*>:
    “Tố Hữu ấy à? Không, không phải đâu. Cần phải công bằng. Tố Hữu có không ưa mình, có làm khổ mình thật, do lòng đố kỵ mà ra. Mình cũng ghét cái thằng bắng nhắng ấy lắm. Nhưng có thế nào nói thế ấy. Tố Hữu chỉ là kẻ thừa hành thôi. Nói gì thì nói, trong lòng Tố Hữu vẫn còn một chút gì của nhà thơ chứ. Bề ngoài thì thế đấy - Tố Hữu lãnh đạo cuộc đánh từ đầu chí cuối. Người ta tưởng vụ Nhân văn - Giai phẩm nổ ra là bởi báo Nhân văn đăng mấy bài phê bình thơ Tố Hữu, Tố Hữu tức, Tố Hữu đánh. Nhầm hết. Longue Marche (tiếng Pháp, có nghĩa là cuộc quân hành dài, ý nói Trường Chinh) mới là kẻ sáng tác ra vụ Nhân văn - Giai phẩm. Để chạy tội Cải cách ruộng đất. Để tạo ra cái hố rác mà trút mọi tội lỗi của Lúy[2] vào đấy. Chính Longue Marche chứ không ai khác. Đừng tước bản quyền của Lúy, tội nghiệp! Longue Marche còn cho mời mình và Nguyễn Tuân đến gặp. Lúy nói cả tiếng đồng hồ về đảng tính, về trách nhiệm đảng viên. Chiêu hồi mà. Nguyễn Tuân nghe, mặt hất lên, ngáp không cần che miệng. Nguyễn Tuân vẫn thế - bất cần đời. Đôi lúc cũng có hèn một tí, hèn có mức độ thôi, trong đại đa số trường hợp là kẻ bất chấp. Mình nói với Longue Marche: "Nếu trong vườn hồng có sâu thì ta phải chịu khó mà bắt bằng tay, từng con một. Đổ ụp cả đống thuốc trừ sâu vào đấy thì chết cả vườn hồng. Rồi anh sẽ thấy: qua đợt đánh phá này không biết bao giờ nền văn nghệ Việt Nam mới ngóc đầu dậy được!" Lúy nghe, mặt câng câng. Cái cách của Trường Chinh là thế. Lúy gọi mình đến còn có ý này nữa: Lúy muốn mình phải hiểu - tôi đã chịu khó nghe các anh rồi đấy nhá, tôi dân chủ lắm rồi đấy nhá! Chứ còn cái nền văn nghệ của các anh, nó đáng giá mấy xu?.
    Chú thích <*2*>:
    "Những tư tưởng Nhân văn-Giai phẩm luồn lách như chạch; không phải lúc nào nó cũng lộ liễu như trộn trấu, cát vào gạo cơm ta ăn, khiến ta biết ngay; mà có khi nó giấu tay rỏ thuốc độc vào những chai thuốc dán nhãn hiệu là “bổ”. Văn Cao vào hạng có bàn tay bọc nhung như thế. Sự giả dối đã thành bản chất của Văn Cao, nên những cái lạc hậu, thoái hoá của Văn Cao cứ nghiễm nhiên mặc áo chân lý và tiến bộ. (...)
    Vào đời giữa thời phát-xít Nhật đổ bộ vào Đông Dương, lúc lớn lên nhạy cảm nhất lại là lúc chủ nghĩa đế quốc Pháp Nhật toát ra cái chất cuối mùa đồi trụy nhất, phản động nhất, Văn Cao đã ngộ độc rất nặng. (...)
    Trong bài hát Trương Chi, Văn Cao gán cho người đánh cá cái khinh bạc tột độ của mình, không coi nhân quần ra cái gì hết, chỉ có một mình mình trên trái đất; hơi lạnh của chủ nghĩa cá nhân tuyệt đối toát ra như một âm khí nặng nề:
    Ngồi đây ta gõ mạn thuyền
    Ta ca trái đất còn riêng ta! (...)
    Những ngày đầu Cách mạng tháng Tám, những ý nghĩ phiêu lưu, tìm thi vị xa vời, mới lạ trong cách mạng, là một chặng đường tất yếu của tư tưởng nhiều người; mơ ước “Hải quân Việt Nam”, “Không quân Việt Nam” lúc đó cũng là một trạng thái của lòng yêu nước.
    Nhưng ta phải giật mình khi nhớ lại những lời hát:
    Ta là đàn chim bay trên mây xanh
    Mắt nhìn trong khói những kinh thành tan...
    ...Ta là tinh cầu bay trong đêm trăng
    Ta không trách trình độ chính trị của ta và của tác giả khi đó còn thấp. Chúng ta giật mình vì cái lối bay để mà bay, tự say lấy mình đó là tiền thân của cái lối “Hãy đi mãi” của Trần Dần; chúng ta giật mình hơn nữa là cái máu anh hùng chủ nghĩa làm cho Văn Cao sảng khoái nhìn thấy “những kinh thành tan” dưới bom đạn mà không chút xót thương, và “chiến công ngang trời” kia lại là của “không quân Việt Nam”, mà không nói là chiến tranh tự vệ!
    Mấy bài thơ năm 1946, 1948 của Văn Cao, có dụng ý tốt, nhưng cũng bộc lộ cái tính chất nghệ thuật của Văn Cao, thích khúc mắc, khó hiểu, thích loè lên lấp lánh, pha với sự lập dị, chộ người, toát ra một màu vị tan rã, như bài "Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc", hay như bài "Ngoại ô mùa đông 46" (Văn nghệ số 2, tháng 4-5/1948):
    Ta đi trong nhà đổ
    Nghe thời gian đã nhạt khúc ân tình
    Tuy phòng the chiếc áo trẻ sơ sinh
    Còn xiêm hài dành hương phấn cũ…
    ...
    Chữ Phạn, La-tinh nhường máu tô diệt Pháp
    Gió lạnh khi qua viện tàng thư
    Cháy cong queo, bìa giữ chút di từ
    Kierkegaard, Heiddeger và Nietzsche… (...)
    Giả dối như một con mèo, kín nhẹn như một bàn tay âm mưu trong truyện trinh thám, bài thơ Anh có nghe thấy không? lập lờ, ấp úng, bí hiểm, hai mặt, tuy nhiên công chúng cũng hiểu nó muốn nói gì. Văn Cao gọi ai là “chúng nó”? Đối lập với ai là “chúng ta”?
    Bao giờ nghe được bản tình ca
    Bao giờ bình yên xem một tranh tĩnh vật
    Bao giờ
    Bao giờ chúng nó đi tất cả (...)
    Trên đất nước ta, “chúng nó” là Mỹ-Diệm ở miền Nam, là tay chân Mỹ-Diệm ở miền Bắc, là bọn phá hoại Nhân văn-Giai phẩm; chúng nó là thế đấy (...)
    Những con người của chúng ta, từ Cách mạng tháng Tám đến nay, xuất hiện, trưởng thành dần dần và mãnh liệt, để đi tới “lừng lẫy Điện Biên, chấn động địa cầu”, dù chúng ta có còn khuyết điểm, nhược điểm gì, cả Trái đất cũng biết chúng ta vĩ đại!" (Xuân Diệu, Dao có mài mới sắc Nxb Văn học, Hà Nội 1963, tr. 101-114. Bản điện tử do Lại Nguyên Ân cung cấp, tài liệu Talawas)
    http://www.viet.rfi.fr/tong-hop/20100411-nhan-van-giai-pham-phan-xiii-van-cao
    Chú thích <*3*>:
    “VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐẠI TÁ CÔNG AN
    Được đăng bởi nguyentrongtao và VANDANVIET.COM
    NTT: Nhà văn Lê Hoài Nguyên tên thật là Thái Kế Toại, nguyên Đại tá công an, công tác tại A25 (chuyên theo giõi văn nghệ sĩ và văn hóa) đã gửi tới NTT.ORG một chuyên luận dài về Nhân Văn Giai Phẩm, và chúng tôi đã đăng làm 5 kỳ từ đầu tháng 8/2010, được nhiều trang mạng đăng lại. Nay tác giả đã chỉnh sửa lại bài viết của mình và nhờ NTT.ORG đăng lại trọn vẹn bài viết này. Các bạn hãy đọc nó như đọc một “góc nhìn” về sự thật.

    VỤ NHÂN VĂN – GIAI PHẨM MỘT TRÀO LƯU DÂN CHỦ, MỘT CUỘC CÁCH TÂN VĂN HỌC KHÔNG THÀNH - LÊ HOÀI NGUYÊN

    Xin trích một số đoạn trong tài liệu này, để chứng minh phong trào Nhân Văn Giai Phẩm 1955 -1958 chỉ là một trào lưu tìm dân chủ, tìm tự do cho văn học nghệ thuật, không hề mang tính phản động, lật đổ chế độ như chính quyền cộng sản đã vu cáo, để đàn áp các đồng chí của Văn Cao một cách khốc liệt, như từng xảy ra mà đại tá công an A 25 Thái Kế Toại đã chứng minh và kết luận một cách khoa học, thấu tình đạt lý, khiến kẻ viết bài này miễn bình luận:
    “Tác giả (tức đại tá công an A 25 Thái Kế Toại) tin rằng Nhân Văn – Giai Phẩm (NVGP) không phải là một vụ án gián điêp phản động. Các văn nghệ sỹ trí thức NVGP không có mục đích lật đổ chế độ. Họ chỉ mong muốn ĐCSVN, chính phủ sửa chữa những sai lầm và xây dựng ngay một nền dân chủ pháp trị, một đời sống tinh thần có tự do tư tưởng, một đời sống văn học nghệ thuật tự do sáng tạo…
    …Còn vụ án được đem xét xử công khai có thể nói đấy là một vụ án xử vì mục đích chính trị chưa đủ chứng cứ cấu thành tội danh hoạt động gián điệp mà động cơ của nó có thể có sự lợi dụng để khuất lấp tai tiếng và bảo vệ vị trí của chính những người lãnh đạo Đảng đã mắc sai lầm trong CCRĐ
    …Nội dung bản án kết tội NVGP trong phiên xử án như sau:
    “Chúng là những tên gián điệp phản cách mạng, phá hoại hiện hành,hoạt động có tổ chức, thực hiện âm mưu của địch, tiến hành những hoạt động chiến tranh tâm lý đê hèn nhất, những hoạt động phá hoại thâm độc nhất, để cuối cùng lật đổ chế độ chúng ta ở miền Bắc…”
    …- Nhà nước cộng sản huy động hầu hêt các phương tiện thông tin đại chúng của chính quyền tham gia phê phán. Báo Nhân Dân, Hà Nội Mới, Quân Đội Nhân dân, Tạp chí Học Tập, Tạp chí Văn Nghệ, Đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam, Văn Nghệ Quân Đội, Tạp chí Điện Ảnh… Đặc trưng của các cơ quan ngôn luận cộng sản là chỉ cho phép sự phê bình chính thống, không cho phép người bị phê bình được nói lại…
    …-Huy động các cơ quan quản lý trí thức, văn nghệ sỹ tổ chức các cuộc kiểm thảo, phê bình đấu tố những người tham gia NVGP, sau khi đấu tố đương sự phải viết bản tự thú tội để công khai hóa trên các phương tiện tuyên truyền…
    …-Sử dụng các biện pháp nghiệp vụ của hệ thống công an để bắt bớ, đàn áp...
    …-Sử dụng các biện pháp quản lý hành chính như khai trừ Đảng, khai trừ BCH khai trừ hội viên các hội VHNT, treo bút không cho xuất bản tác phẩm có thời hạn hoặc vĩnh viễn, cách chức, chuyển công tác, hạ lương, đưa ra khỏi biên chế, bắt buộc cư trú ở những vùng xa Hà Nội, đưa đi cải tạo bằng lao động chân tay ở nông trường, nhà máy, hợp tác xã nông nghiệp…
    …- Ngoài ra gia đình các đối tượng còn phải chịu sự đối xử khắc nghiêt của các cơ quan quản lý xã hội và toàn xã hội như việc học hành, thi cử, phân công công tác, lấy vợ lấy chồng…
    …Đáng lẽ có những hình thức kỷ luật chỉ có thời hạn vài ba năm nhưng cuối cùng kéo dài cho tới thời kỳ đổi mới. Các đối tượng hết hạn tù và quản chế đang là công dân bình thường nhưng vẫn bị quản lý như người mất quyền công dân…
    Nói chung là cái biện pháp tổng hợp ấy có một mãnh lực vô hình ghê gớm, nó làm tê liệt mòn mỏi sức lực và tinh thần của một bộ phận trí thức tinh hoa trong thời gian dài 30 năm…
    …Năm 1958 là năm đen tối của họ (NVGP), bị đấu tố, kỷ luật, ngồi tù, cải tạo lao động…
    …Trong thời gian này Hồ Chí Minh đi thăm Liên Xô, Mông Cổ, CHDCND Triều Tiên có ghé thăm Bắc Kinh, chứng kiến và có thể học hỏi các kinh nghiệm tổ chức phong trào đánh phái hữu. Việt Nam cử Tố Hữu, Huy Cận và Hà Xuân Trường sang học tập kinh nghiệm, chính sách của Trung Quốc…
    ... Bản thân Trường Chinh cũng không thể đẩy cao hơn tốc độ cuộc chiến chống NVGP vì ông ta không còn đầy đủ quyền lực như trước nữa…
    …Phải nói rằng ngôn ngữ văn học miền Nam đã đi trước hiện đại hóa so với ngôn ngữ văn học miền Bắc mấy chục năm. Phải chăng đó là hậu quả của việc thủ tiêu cuộc cách mạng văn học của NVGP?”
    (hết trích bài của đại tá công an A 25 Thái Kế Toại)
    Từ khóa: Văn Caothiên taitrần mạnh hảoần mạnh hảo

  • bài tác giả
  • gửi đến Dân Luận  <www.danluan.com>

  • Tr
    ần Mạnh Hảo [ 1947-       ]
  •  (ảnh: blog Phan Nguyên)
  • (Bt)

Thứ Tư, 23 tháng 5, 2018

' Cha. Con ' / trích đoạn tiểu thuyết AMERICAN PASTORAL / Philip Roth -- bản việt ngữ: Trịnh Y Thư / blog Phạm Cao Hoàng



WEDNESDAY, MAY 23, 2018

603. CHA CON (trích đoạn tiểu thuyết American Pastoral) PHILIP ROTH Trịnh Y Thư dịch

Philip Roth [1933-2018]

Lời người dịch: Philip Roth, đại thụ của văn học Mĩ đương đại, vừa tạ thế hôm thứ ba 22/5/2018 tại New York. Cùng với Saul Bellow và John Updike, ông làm thành bộ-ba cột trụ nâng đỡ nền văn học Mĩ suốt nửa sau thế kỉ XX và sang cả thế kỉ XXI. Đến nay thì cả ba đã ra đi.

Sau Thế chiến II văn xuôi Mĩ như đi vào thời kì Phục Hưng Mới. Bước ra khỏi bóng mát của những cây cổ thụ ở nửa đầu thế kỉ như John Dos Passos, Ernest Hemingway, William Faulkner, Henry Miller, John Steinbeck, một thế hệ những cây bút có thực tài, tin tưởng nhiệt tình vào sự tự do tuyệt đối trong sáng tạo và luôn luôn trung thành với nghệ thuật, đã đem lại khí hậu mới cho văn học Mĩ và thật sự thể hiện được tiếng nói của thời đại mình. Có thể liệt kê ra đây một số những tên tuổi quen thuộc được cả thế giới mến mộ như John Updike, Grace Paley, Hubert Selby, Flannery O'Connor, John Cheever, Bernard Malamud, Saul Bellow, J.D. Salinger, J.F. Powers, Raymond Carver, Ann Beattie, Andre Dubus, Richard Ford, Mary Gaitskill, Joyce Carol Oates, Erica Jong, Toni Morrison, Joy Williams, Jayne Anne Phillips, Tim O'Brien, Tobias Wolff, vân vân. Danh sách dài lắm, có lẽ kể không xiết.

Nhưng không thể không nhắc đến Philip Roth.

Ngay với tác phẩm đầu tay, cuốn Goodbye, Columbus (Giã từ, Columbus) xuất bản năm 1959, Roth đã thành công rực rỡ, và tập truyện này (gồm một truyện vừa và năm truyện ngắn) được trao tặng giải National Book, giải thưởng văn học cao quý nhất của nước Mĩ. Nói đến giải thưởng, người ta không khỏi chóng mặt khi đếm lại những giải thưởng ông được trao tặng trong suốt quá trình sáng tạo. Không kể những giải nhỏ,  những giải thưởng sau đây đã lọt vào tay ông: năm lầnPEN, một lần Ambassador Book, một lần Pulitzer, hai lần National Book, hai lầnNational Book Critic Circle. (Điều phi lí là giải Nobel Văn chương tìm mọi cách né tránh ông.) Năm 1998, toà Bạch Ốc vinh danh ông với Huân chương Nghệ thuật Quốc gia. Năm 2001, ông được Hàn lâm viện Văn học & Nghệ thuật trao tặng huy chương vàng bộ môn tiểu thuyết. Năm sau Sáng hội Văn chương Quốc gia trân trọng vinh danh ông như là người có những đóng góp cao quý nhất vào văn học Mĩ. Năm 2005, dự án Philip Roth Toàn Tập khởi in và hoàn tất năm 2012, đây là vinh dự hiếm hoi cho một nhà văn còn tại thế.

Philip Roth sinh năm 1933 tại Newark, bang New Jersey, nơi ông dùng làm bối cảnh địa lí cho rất nhiều tiểu thuyết của ông kể cả cuốn American Pastoral (Miền thôn dã Mĩ quốc) trích dịch dưới đây. Thời trẻ ông theo học tại đại học Chicago và tốt nghiệp Thạc sĩ Anh ngữ. Năm 1955 ông bị gọi nhập ngũ nhưng chỉ ít lâu sau phải giải ngũ vì bị thương trong lúc huấn luyện tại thao trường. Ra lính, ông học tiếp lên Tiến sĩ nhưng nửa chừng bỏ dở và từ năm 1959 ông bắt đầu viết bài điểm phim cho tạp chí New Republic. Cũng vào năm đó, cuốn Goodbye, Columbus ra đời; tác phẩm đoạt giải National Book, và sau đó được dựng thành phim truyện. Tuy thế, phải đợi mười năm sau, cuốn Portnoy's Complaint (Lời than vãn của Portnoy) mới thật sự gây tiếng vang sâu rộng và tạo phản ứng mạnh mẽ từ giới phê bình cũng như độc giả khắp nước. Cuốn sách viết về cậu trai đang ở tuổi dậy thì với những ám ảnh tình dục và liên hệ không mấy tốt đẹp giữa cậu và bà mẹ Do Thái.

Do Thái, đúng hơn đời sống người Do Thái trên đất Mĩ, chiếm phần lớn nội dung tiểu thuyết của Roth. Không khác những nhà văn đi trước ông như Malamud và Bellow, những nhân vật trong truyện của Roth gần gũi con người ông nhất bao giờ cũng là Do Thái, nhưng đó là những con người Do Thái không đẹp đẽ, dễ yêu chút nào. Người đọc thường có cảm tưởng nhìn thấy chính ông với những ám ảnh của các nhân vật trong truyện. Bị chỉ trích, ông trả lời: “Xuất bản một tác phẩm giống như xách chiếc va-li của mình đem vứt nơi công cộng rồi bỏ đi. Không cách nào nhà văn có thể bảo đảm chuyện gì xảy đến cho cuốn sách của mình khi nó được tung ra ngoài thế giới.” Càng về sau Roth càng vật vã với vấn nạn khủng hoảng căn cước.

Từ những năm 60, Roth dạy văn chương tại nhiều đại học khác nhau, phần lớn bên miền Đông nước Mĩ. Năm 1972, ông xuất bản cuốn The Breast (Cái vú)—nhái theo tác phẩm Hoá thân nổi tiếng của Franz Kafka, trong đó nhân vật chính diện David Kepesh một hôm thấy mình “hoá thân” thành cái vú đàn bà khổng lồ. Kepesh xuất hiện lần nữa trong The Professor of Desire (Vị Giáo sư của dục vọng) (1977) và The Dying Animal (Con thú đang chết) (2001). Thập kỉ 80 không thấy Roth viết nhiều, chỉ có cuốn The Counterlife (Đời sống phản) xuất bản năm 1986 là đáng kể; nhưng tình trạng lắng đọng tạm thời đó chấm dứt ở thập kỉ 90 khi Roth ào ạt trở lại với sức sáng tác sung mãn hơn bao giờ hết và liên tiếp giật hết giải thưởng văn học này đến giải kia. Cuốn The Human Stain (Vết nhơ con người) xuất bản năm 2000 được dựng thành phim do Nicole Kidman và Anthony Hopkins thủ diễn các vai chính. Cuốn tiểu thuyết viết về quan hệ tình ái giữa ông giáo sư già một trường đại học nhỏ với người đàn bà mù chữ làm lao công trong trường. Những cuốn quan trọng khác là: Patrimony (Di sản tổ tiên) (1991) được giải National Book Critics Circle; cuốn Operation Shylock (Chiến dịch Shylock) (1993) được giải PEN/Faulkner; cuốn Sabbath's Theater (Khán trường của Sabbath) (1995) được giải National Book. Ở tuổi tác khá cao, Roth vẫn sáng tác không ngừng, mỗi năm vẫn đều đặn cho ra đời một cuốn sách, và trái với lẽ thông thường nơi nhiều nhà văn khác, càng về sau tiểu thuyết ông càng có giá trị văn học, minh chứng bởi những giải thưởng văn học ông liên tiếp nhận lãnh hằng năm. Cuốn A Plot Against America (Kế hoạch phá hoại nước Mĩ), xuất bản năm 2005, viết theo thể tiểu thuyết phản lịch sử, trong đó Charles Lindberg thay vì Franklin Delano Roosevelt đắc cử Tổng thống năm 1932 và nước Mĩ rơi vào tình trạng quân phiệt như Đức Quốc xã. Lịch sử trong cuốn sách là một lịch sử giả định, và được nhiều người xem là có tính tiên tri, nó dự báo việc Donald Trump lên làm Tổng thống nước Mĩ. Sau cuốn Indignation (Phẫn nộ) viết năm 2008, người ta tưởng ông đã ngưng viết, nhưng năm 2010, ở tuổi 77, ông cho xuất bản cuốn Nemesis và đây mới là tác phẩm cuối cùng của một sự nghiệp đồ sộ trên 30 cuốn sách. Sức sáng tác của ông bền bỉ và giá trị tác phẩm cao đến độ ngay cả những kẻ nghi hoặc nhất cũng phải kinh ngạc. Hai lần tạp chí TIME bình chọn ông là nhà văn lớn nhất của nuớc Mĩ.

Trích đoạn Cha Con (tựa do người dịch đặt) nằm trong phần hai của cuốn tiểu thuyết American Pastoral (Miền thôn dã Mĩ quốc) xuất bản lần thứ nhất năm 1997 và được trao tặng giải Pulitzer. Bối cảnh lịch sử là thập kỉ 60 với những xáo trộn và phân hoá chưa từng thấy trong xã hội Mĩ do tác động trực tiếp của cuộc chiến tại Việt Nam và những biến đổi sâu sắc trong đời sống dân Mĩ – như cuộc cách mạng tình dục – đem lại. Swede Levov, nhân vật chính trong truyện, thời niên thiếu là một lực sĩ nhiều triển vọng, đẹp trai, được nhiều người mến mộ. Anh thuộc thế hệ Do Thái thứ ba sinh sống ở Newark, bang New Jersey. Cha anh có nghề làm găng tay da và khi trưởng thành Swede thừa hưởng gia tài cha mẹ để lại, trở thành chủ nhân một doanh nghiệp lớn và trở nên giàu có. Swede lấy vợ, hoa khôi New Jersey, và sinh được mụn con. Đó là Merry, cô gái xinh đẹp và hết sức thông minh. Anh mua đất nơi vùng thôn dã Old Rimrock cách xa thành phố, xây nhà cho vợ con ở. Cuộc sống gia đình anh tưởng như nơi thiên đường.

Nhưng thiên đường sụp vỡ khi Merry năm mười sáu tuổi đặt bom phá tan cửa hàng tạp hoá gần trường học và làm thiệt mạng một người đàn ông. Merry không phải là cô gái hư hỏng, ngược lại ngay từ khi còn bé thơ cô đã học hành giỏi giang, cha mẹ cô yêu thương cô hết mực và dốc lòng chăm sóc cô đến nơi đến chốn. Tuy vậy, Merry không trở thành cô gái tiểu thư con nhà khuê các. Mầm mống của tai hoạ bắt đầu từ khi cô có chút trí khôn, đầu óc của cô gái nhỏ không hiểu do đâu bỗng chứa đựng toàn những tư tưởng phẫn nộ, phản loạn. Mỗi ngày phải nhìn những hình ảnh chết chóc phi lí của cuộc chiến tranh bên Đông Dương, cô thù ghét khôn tả cuộc chiến đó và cô đổ tội lên các lãnh tụ quốc gia nơi cô sinh trưởng. Cô phản loạn đến độ cô nghe theo các nhóm phản chiến đi vào con đường bạo động nhằm đánh thức lương tâm nước Mĩ. Cô không biết hay cố tình không cần biết hành vi đó của cô đã gây đau khổ dường nào cho hai người sinh thành ra cô.

Swede đau khổ vô cùng. Con gái anh, sau vụ đánh bom, trốn biệt và bị công an liên bang lên án, truy tầm. Anh sống trong lo âu, sợ hãi, nhưng một hôm, năm năm sau khi Merry bỏ trốn, qua móc nối của người đàn bà trong phong trào phản chiến, anh tìm gặp lại Merry…

Roth luôn luôn dành tình cảm đậm đà cho các nhân vật của mình. Đây là đặc tính của ngòi bút ông, trích đoạn dưới đây cho thấy điều đó. Cảm xúc tuôn chảy không ngừng, người đọc có cảm tưởng như chính ông chịu cái đau của nhân vật. Swede gặp con gái xong, ra về trong hoảng loạn. Về nhà anh càng hoảng loạn hơn khi nhìn vợ. Vợ anh ngoại tình với tay kiến trúc sư, người chính tay xây cất ngôi nhà hoành tráng của vợ chồng anh, ngôi nhà bên trong thiên đường nơi miền thôn dã nước Mĩ.    Trịnh Y Thư


Chiếm trọn góc toà nhà cao tầng tường gạch lở lói là cái bệnh viện chó mèo, bên cạnh khu đất trống nơi bánh xe phế thải vứt bừa bãi, cỏ dại cao tận đầu người mọc vô trật tự, hàng rào sắt lưới mắt cáo gãy đổ xiêu vẹo bên lối bộ hành nơi anh đứng đợi con gái mình . . . cô sống ở Newark. . . bao lâu rồi. . . nơi đâu, khu xóm nào trong thành phố này? Không, đầu óc anh không thiếu khả năng tưởng tượng—tưởng tượng những điều kinh khiếp giờ đây với anh trở nên quá dễ dàng, mặc dù anh vẫn không hình dung nổi làm thế nào từ Old Rimrock cô có thể xiêu lạc về tận nơi đây. Mất rồi những ảo tưởng cho anh bám víu hòng kềm hãm mọi kinh ngạc đang lăm le ào tới.

Nơi cô làm việc cho thấy cô chẳng còn tin tưởng gì vào lời kêu gọi đi thay đổi lịch sử nước Mĩ nữa. Lối thoát hoả hoạn, cái thang sắt rỉ sét của toà nhà, nếu có ai đặt chân lên, chắc nó sẽ gãy lìa khỏi neo móc và rơi ập xuống thôi—cái thang, nhiệm vụ của nó không phải để cứu người trong trường hợp hoả hoạn, nó treo toòng teng nơi đó thật vô dụng như minh chứng cho nỗi cô độc mịt mùng bấu chặt vào cuộc sống. Với anh, nó không hề hàm chứa ý nghĩa nào khác—toà nhà đó không tượng trưng cho bất kì ý nghĩa nào. Vâng, chúng ta đang sống cô độc, sâu thăm thẳm nỗi cô độc, và luôn luôn chờ đón trước mặt chúng ta tầng cô độc sâu hơn. Chúng ta chẳng thể nào chối bỏ được điều đó. Không, cô độc không làm chúng ta lạ lùng kinh ngạc, kinh ngạc như khi chúng ta nếm mùi nó. Bạn có thể dốc lòng dạ mình ra, nhưng làm thế thì được gì, thay vì hướng nội và cô độc thì bạn hướng ngoại và cô độc. Hỡi Merry yêu dấu ngu xuẩn, ngu xuẩn của tôi, ngu xuẩn hơn cả người cha ngu xuẩn của con, phá sập nhà cửa dinh thự đem lại ích lợi gì đâu. Cô độc nếu có những toà nhà và cô độc nếu không có những toà nhà. Chẳng ai phản đối được sự cô độc—tất cả những cuộc tấn công bằng bom đạn trong lịch sử có bao giờ gây vết trầy nhỏ nào lên nó đâu. Chất nổ tàn hại độc phá nhất của con người cũng chẳng đụng tới nó. Hỡi đứa con dại khờ của tôi, đứng sừng sững đầy khiếp hãi trước mặt không phải là Chủ nghĩa Cộng sản mà là nỗi cô độc thường tình, bình nhật. Lễ Lao động con hãy đi diễn hành với bạn bè để vinh danh nó, siêu lực của những siêu lực, sức mạnh phủ trùm lên mọi vật. Hãy đặt hết niềm tin, hãy thờ phượng—hãy quỳ xuống phủ phục không phải trước mặt Karl Marx, hỡi đứa con nói lắp, phẫn nộ, ngu muội của tôi, không phải Hồ Chí Minh, không phải Mao Trạch Đông—hãy quỳ xuống và phủ phục trước mặt Chúa Cô Độc vĩ đại!

Con cô đơn quá, cô thường bảo anh vậy lúc cô còn là cô gái bé thơ, và anh không hiểu cô học chữ đó từ đâu. Cô đơn. Từ ngữ thốt ra từ miệng đứa trẻ lên hai nghe sao thê thiết. Nhưng cô biết nói quá nhiều và quá sớm, ngay từ buổi đầu cô đã ăn nói thật dễ dàng, sắc sảo—và biết đâu đó chính là cái gì ẩn nấp đằng sau tật nói lắp, những chữ cô thành thuộc một cách kì quái trước khi những đứa trẻ khác biết cách phát âm tên của chính mình, một tình trạng quá tải vốn liếng từ vựng trong đó có cả câu nói kêu rêu “Con cô đơn quá.” Cô chỉ trò chuyện được với anh. “Bố ơi! Mình nói chuyện này đi.” Thường câu chuyện xoay quanh mẹ cô. Cô bảo anh mẹ bình phẩm quá nhiều về quần áo, tóc tai cô. Mẹ muốn cô phải ăn mặc như người lớn chứ không như những đứa trẻ khác. Merry thích để tóc dài như Patti, nhưng mẹ muốn cô cắt tóc ngắn. “Chắc mẹ sẽ hài lòng vui sướng lắm nếu con mặc đồng phục như hồi đó mẹ mặc ở trường St. Genevieve.” “Mẹ là người bảo thủ, thế thôi. Nhưng con thích đi sắm hàng với mẹ mà.” “Đi mua sắm với mẹ con chỉ thích lúc ăn trưa, ăn trưa vui lắm. Đôi khi chọn quần áo cũng thích. Nhưng lúc nào mẹ cũng n-n-n-n-nói quá nhiều.” Bữa trưa ở trường học cô chẳng bao giờ chịu ăn thức ăn mẹ cô bới cho cô đem theo. “Bánh mì kẹp thịt thấy mà ghê. Xúc xích gan thấy mà ghê. Cá tu-na để trong túi ướt nhẹp. Món duy nhất con thích ăn là thịt dăm bông Virginia, nhưng phải lột vỏ bì. Con cũng thích ăn s-s-súp nóng nữa.” Nhưng khi cầm theo bình thuỷ đựng súp đến trường, cô cứ làm vỡ bình. Nếu không tuần lễ đầu thì tuần thứ nhì. Dawn mua cho cô loại bình không vỡ nhưng ngay thế cô vẫn đập nó vỡ tan như thường. Đó là mức độ đập phá nơi con người cô.

Đi học về, trong lúc nướng bánh với Patti, bạn cô, Merry lúc nào cũng phải đập trứng vì Patti bảo đập trứng làm cô nhợn nhạo. Merry cho đấy là chuyện vớ vẩn, thế là một hôm cô đập quả trứng ngay trước mặt Patti và cô gái này nôn thốc ra. Đó là tính đập phá trong con người cô—đập bình thuỷ và đập trứng. Và vứt đi tất cả những gì mẹ cô bắt cô đem theo lúc đến trường. Không bao giờ than phiền, chỉ không chịu ăn. Khi Dawn bắt đầu nghi ngờ hành vi đó của con gái và hỏi cô ăn gì trong trường, Merry có lẽ vứt thức ăn mà chẳng hề mở hộp xem có gì bên trong. “Đôi lúc mẹ nghĩ con là đứa trẻ bất trị,” Dawn bảo cô vậy. “Không đâu. Con không b-b-b-bất trị như thế đâu nếu mẹ đừng hỏi con ăn gì trong trường.” Điên tiết, mẹ cô nói, “Merry, thật chẳng dễ dàng chút nào để làm nên con người con, phải không?” “Mẹ à, con nghĩ để làm nên con người con có lẽ còn dễ dàng hơn là lại g-g-gần con.” Với cha cô, cô tâm sự, “Con nghĩ trái cây cũng chẳng có gì h-h-hấp dẫn nên con vứt đi luôn.” “Và cả sữa con cũng vứt.” “Bố à, sữa hết lạnh uống sao nổi.” Nhưng dưới đáy hộp đồ ăn trưa bao giờ cũng có đồng mười xu để mua kem, và cô chỉ ăn có thế. Không thích mù-tạt. Đó là lời than phiền khác của cô ít năm trước khi cô bắt đầu than phiền về Tư bản chủ nghĩa. “Bố ơi, trẻ con làm cái gì?” Cô hỏi anh. Câu trả lời là Patti. Patti ăn bánh mì kẹp thịt có mù-tạt và phó-mát; Merry, trong những lần tâm sự trò chuyện với cha, không thể nào hiểu nổi điều đó. Bánh mì quết phó-mát nướng chảy là cái gì Merry thích ăn hơn cả. Phó-mát Muenster nướng cho chảy ra rồi ăn với bánh mì trắng. Ở trường học ra, Merry rủ Patti về nhà, và bởi Merry vứt hết thức ăn trưa rồi, hai đứa trẻ lúi húi nướng phó-mát ăn với bánh mì. Đôi khi chỉ là phó-mát nướng trên mảnh giấy nhôm. Cô dám chắc cô có thể sống ăn độc món phó-mát nướng chảy nếu có ngày cô phải sống như thế, cô bảo cha cô vậy. Có lẽ đó là hành vi vô trách nhiệm nhất của đứa trẻ—sau buổi học về nhà nướng phó-mát trên giấy nhôm rồi nhồm nhoàm ăn—cho đến khi cô ném bom phá nổ tan tành cửa hàng tạp hoá. Ngay chuyện Patti làm cô khó chịu cô cũng chẳng bao giờ nói ra, bởi cô sợ Patti đau lòng. “Đến nhà chơi mãi cũng có lúc p-p-p-phát chán chứ.” Nhưng với Dawn cô luôn luôn làm ra vẻ cô muốn Patti ở chơi lâu hơn. Mẹ ơi, Patti ở lại ăn cơm tối với mình được không? Mẹ ơi, Patti ở lại ngủ đêm chung với con được không? Mẹ ơi, Patti đi giày bốt của con được không? Mẹ ơi, mẹ chở con và Patti xuống quê chơi đi.

Năm lớp năm cô tặng mẹ món quà nhân Ngày Hiền Mẫu. Ở trường, các cô cậu học sinh được hỏi làm gì cho mẹ, cô viết lên tấm vải lớn mỗi thứ sáu trong tuần cô sẽ nấu cơm tối cho mẹ, một nghĩa cử khá rộng rãi nơi đứa trẻ lên mười nhưng cô không quên lời hứa đó phần lớn chỉ vì cô muốn chí ít một lần trong tuần có món ziti nướng trên bàn ăn; thêm nữa, nếu nấu ăn cô không phải dọn bàn rửa bát. Có Dawn phụ giúp, thi thoảng cô nấu món lasagna hoặc sò nhồi thịt, nhưng món ziti nướng bao giờ cũng do cô chính tay làm lấy. Đôi ba thứ sáu có nui trộn phó-mát nhưng thường vẫn là ziti nướng. Điều quan trọng là phải canh chừng cho phó-mát chảy ra, mặc dù quan trọng không kém mặt trên phải cứng giòn. Anh là người có nhiệm vụ dọn dẹp bát đĩa mỗi lần cô làm món ziti, và lần nào anh cũng phải rửa ráy một đống đồ dùng. Nhưng anh yêu thích chuyện đó. “Nấu ăn thích lắm nhưng dọn dẹp thì chẳng vui thú tí nào,” cô tâm sự với anh, nhưng anh không thấy vậy khi Merry nấu ăn. Anh nghe nói trên đường 49 có nhà hàng làm món zitinướng ngon nhất New York, anh liền đưa gia đình đến ăn ở tiệm Vincent đều đặn mỗi tháng một lần. Anh đưa vợ con vào xem Radio City hoặc một vở nhạc kịch Broadway nào đó rồi kéo nhau vào tiệm Vincent. Merry thích tiệm này lắm. Anh chàng chạy bàn trẻ trung tên Billy cũng tỏ ra yêu mến cô đặc biệt vì cậu em anh chàng cũng bị tật nói lắp giống cô. Anh ta kể cho Merry nghe về những ngôi sao TV và điện ảnh đến ăn ở tiệm. “Ghế bố em đang ngồi kìa, thấy không? Signorina, thấy cái ghế đó không? Tối qua Danny Thomas ngồi ngay đấy. Em biết Danny Thomas nói gì khi có người lạ đến làm quen không?” “Kh-kh-kh-không.” “Ông ấy nói 'Hân hạnh được gặp ông.'” Sáng thứ hai, ngày hôm sau, tại trường, cô lặp lại những gì Billy của tiệm Vincent ở New York kể cô nghe tối hôm trước. Có đứa trẻ nào vui sướng hơn không? Một đứa trẻ ít phá hoại hơn? Một signorina be bé được cha mẹ yêu thương hơn? Không.

*

Mụ đàn bà da đen người to béo như con ngựa kéo xe thồ, mụ mặc quần màu vàng bó sát đùi, chân đi giày cao gót, khập khiễng tiến đến anh, một tay mụ chìa ra mảnh giấy nhỏ. Vết thẹo chằng chịt trên khuôn mặt mụ. Anh biết mụ đến báo tin con gái anh đã chết. Mảnh giấy viết thế. Chữ viết của Rita Cohen trên mảnh giấy. Mụ bảo anh: “Thưa ngài, ngài có thể chỉ đường cho tôi đến Salvation Armyđược không?” “Có Salvation Army quanh đây à?” Anh hỏi lại mụ. Trông mụ chẳng có vẻ gì là đang nói sự thật. Mụ đáp lời, “Ừm, tôi nghĩ vậy,” Mụ giơ lên mảnh giấy, “Trong này nói thế. Ngài biết nó ở đâu không, thưa ngài.” Bất kì câu nói nào bắt đầu hay chấm dứt bằng tiếng ngài thường có nghĩa là “Tôi muốn tiền,” và vì thế anh rút túi đưa cho mụ xấp giấy bạc, mụ lảo đảo quành bước rồi biến dạng vào hầm cầu, nhưng sau đó anh chẳng thấy bóng dáng ai hiện ra.

Anh đứng chờ bốn mươi phút và có lẽ bốn mươi phút nữa, có lẽ đến khi trời tối, tối mịt không chừng, người đàn ông mặc trên người bộ com-lê trị giá bảy trăm đô la, đứng dựa lưng vào cột đèn điện như gã lang thang không nhà áo quần rách rưới, người đàn ông với nhân dáng bề ngoài cho thấy ông ta là nhân vật chỉ biết đi dự hội họp và quan tâm đến chuyện kinh doanh, xã hội, chứ không thể là người chủ ý ra đứng lảng vảng trên con lộ đổ nát gần trạm ga xe lửa, người đàn ông có lẽ là kẻ giàu có từ phương xa đến ngỡ mình lạc vào khu chị em ta, và đang giả tảng nhìn bâng quơ lên bầu trời trong lúc đầu óc đầy ắp những điều bí mật và nhịp tim thình thịch đập (quả đúng như vậy.) Trong trường hợp Rita Cohen nói thật, một sự thật khiếp hãi, có lẽ anh sẽ đứng canh chừng nơi đó suốt đêm cho đến khi trời ửng sáng ngày hôm sau, với ý tưởng trong đầu anh sẽ bắt gặp Merry đi làm. Nhưng may mắn biết bao, sau bốn mươi phút cô xuất hiện, người đàn bà dáng thanh cao, nhưng chắc anh chẳng bao giờ nhận ra đó là con gái mình nếu anh không được mách trước đấy chính là nơi anh sẽ tìm thấy cô.

Một lần nữa trí tưởng tượng của anh thất bại. Anh có cảm tưởng anh không điều khiển nổi các cơ bắp trong người anh nữa, một khả năng anh thuần thục từ năm hai tuổi—anh không ngạc nhiên nếu mọi thứ trong người anh, kể cả máu, tung toé đổ xuống mặt đường. Làm sao anh chiến đấu nổi. Làm sao anh đem chuyện này về nhà đối diện khuôn mặt tinh khôi của Dawn. Những ngọn đèn điện sáng trưng của trần nhà bếp hiện đại chẳng thể nào soi đường cho cô ra khỏi cảnh này để trở về chốn cũ. Một nghìn tám trăm đêm buông thả cho trí tưởng tượng nổi trôi trong đầu người cha kẻ sát nhân vẫn không thể giúp anh chuẩn bị đối đầu với cuộc sống lẩn trốn của cô hiện tại. Không phải vì thế mà FBI vẫn không phăng ra manh mối. Thật quá khủng khiếp cho anh chỉ cần lướt qua ý nghĩ làm thế nào cô có thể trở thành con người như ngày hôm nay. Nhưng quay lưng lại chính con gái mình ư? Trong sợ hãi? Còn tâm hồn cô để nâng niu yêu thương chứ. “Đời sống!” Anh tự nhủ. “Không thể để mất con được! Đời sống của mình, của con!” Ngay lúc đó Merry nhận ra anh, và cho dù làm được, anh không thể quay lưng bỏ chạy, bởi đã quá trễ rồi.

Nhưng nếu bỏ chạy, anh sẽ chạy đến cái gì đây? Đến Swede, kẻ chạy đua không biết mệt chăng? Đến thằng cha Swede, phúc đức thay, quên bẵng hắn là ai và đầu óc trống trơn chăng? Đến Swede Levov của ngày xửa ngày xưa .  .  . Anh cũng có thể tìm đến nhờ mụ đàn bà da đen to béo mặt đầy thẹo giúp đỡ, hỏi mụ về chính anh, “Thưa bà, bà biết tôi đang ở đâu không? Bà biết tôi đang đi đâu không?”

Merry trông thấy anh. Làm sao cô không thấy anh được? Làm sao cô không thấy anh ngay cả khi anh đứng trên con đường nơi hiện hữu sự sống chứ không phải cái chết, nơi cảnh người đua chen bừng bừng sức sống đầy mạnh mẽ chứ không phải khoảng chân không vắng lạnh hoang tàn này? Cha cô đấy, người đàn ông điển trai thân hình cao gần hai thước, chẳng cô gái nào có được người cha điển trai đến vậy. Cô chạy băng qua đường, con người khiếp hãi này, và giống như đứa trẻ vô tư lự như anh có thời cảm thấy thích thú hồi tưởng chính anh cũng vậy—cô bé gái từ xích đu bên ngoài ngôi nhà đá chạy ùa vào—cô ôm chầm lấy anh, hai tay vòng lên bá cổ anh. “Bố! Bố!” Tiếng cô thốt ra từ bên trong tấm mạng che kín nửa mặt dưới—không thấy miệng và cằm cô đâu, tấm mạng chỉ là miếng giẻ rách xé ra từ chiếc vớ ni lông cũ—cô cất tiếng gọi con người cô thù ghét thật trơn tru, không chút gượng gạo, như bất kì đứa trẻ nào, và giống như người lâm vào thảm kịch không biết mình là con cái nhà ai.

Cha con cứ thế khóc mùi mẫn, người cha vững vàng, người quản chế mọi trật tự, người không thể để bất kì dấu hiệu hỗn loạn nào xảy ra—giữ không cho hỗn loạn lại gần là con đường đã chọn của trực giác tiến đến đích thực, điều hẳn nhiên chắc nịch thường ngày của đời sống—và cô con gái, cô chính là sự hỗn loạn đó.

*

Cô theo đạo Jain. Cha cô không hiểu đó là cái gì cho đến lúc với giọng nói đều đều như lời kinh cầu—giọng nói trơn tru có lẽ cô nói trong nhà nếu cô được chữa khỏi tật nói lắp trong lúc sống dưới sự bảo bọc yêu thương của cha mẹ—cô bảo anh Jain là một giáo phái nhỏ bên Ấn Độ. Anh có thể chấp nhận điều đó không khó khăn, nhưng anh không rõ Merry sống như bây giờ bởi giáo lí bắt vậy hay do chính cô tự đặt ra, ngay cả nếu cô quả quyết tất cả mọi sinh hoạt của cô bây giờ đều là sự biểu hiện niềm tin tôn giáo. Cô che mặt bằng tấm mạng để tránh gây nguy hại đến các vi sinh vật sống trong không khí. Cô không tắm rửa bởi cô tôn trọng mọi sinh thể khác kể cả loài côn trùng. Cô không rửa ráy, cô nói, “vì rửa ráy gây tác hại đến nước.” Cô không đi đâu lúc trời tối, ngay cả trong phòng riêng, bởi cô sợ bàn chân cô đè bẹp làm chết sinh vật nào đó. Cô giải thích bên trong bất cứ hình thái vật chất nào cũng có linh hồn nhốt bên trong; hình thái đời sống càng thấp, linh hồn nhốt bên trong càng đau đớn. Con đường duy nhất để giải thoát khỏi vật chất và đạt tới “cõi chân phúc vĩnh cửu dựa vào cuộc sống tự túc” là con đường tiến tới một “linh hồn toàn bích.” Cô kính cẩn gọi thế. Người ta chỉ có thể đạt tới cõi toàn bích này qua sự tu tập khổ hạnh, quên mình và qua học thuyếtahimsa, tức bất bạo động.

Năm “lời nguyện” đánh máy trên mấy tấm cạc nhỏ dán trên tường bên cạnh một đống nệm cao su cáu ghét nằm dưới sàn nhà bẩn thỉu. Đó là chỗ ngủ của cô, và bởi không còn gì khác ngoài đống cao su trong góc phòng và đống giẻ rách—áo quần của cô—ở góc bên kia, đó cũng là nơi cô ngồi gặm những gì lây lất nuôi sống cô. Ít lắm, vô cùng ít, dựa vào sắc diện của cô hiện tại; trông cô như đang ở Delhi hay Calcutta, không ai có thể tưởng tượng nổi cô chỉ cách Old Rimrock năm mươi phút lái xe, cô là người đang chết đói không phải vì niềm tin chân thành của mình vào đức tu khổ hạnh mà là con người cùng khốn bị mọi người khinh khi ghét bỏ, đang lê lết đôi chân yếu đuối bước những bước đi tội nghiệp.

Căn phòng nhỏ lắm, nhỏ ghê rợn hơn cả phòng giam nhà tù trẻ vị thành niên mà những đêm nằm trằn trọc trên giường anh tưởng tượng có ngày vào thăm cô sau khi cô bị bắt giữ. Từ bệnh viện chó mèo đi về phía trạm ga xe lửa đoạn rẽ sang hướng tây, anh theo cô về phòng sau khi chui qua gầm cầu dẫn đến xa lộ McCarter, cái gầm cầu dài không quá năm mươi thước nhưng là nơi người lái xe phải khoá cửa xe cẩn thận mỗi lần chạy ngang. Gầm cầu tối đen, lối đi bộ bừa bãi những món vật không ai hình dung nổi là gì lẫn lộn với bàn ghế cũ gãy nát, lon bia, chai lọ. Bảng số xe dưới chân. Mười năm rồi không ai buồn dọn dẹp chỗ đó. Có lẽ chẳng bao giờ. Mỗi bước chân đi anh nghe tiếng thuỷ tinh vỡ rào rạo dưới đế giày. Ngay giữa lối đi bỗng có quầy rượu nằm chình ình. Nó ở đâu ra? Ai đem nó đến đây? Một cái quần đàn ông. Dơ bẩn. Người đàn ông là ai? Chuyện gì xảy đến cho gã? Swede sẽ không kinh ngạc chút nào nếu anh chợt nhìn thấy cánh tay hay ống chân của ai đó nằm dưới đất. Một túi rác chận ngay lối đi. Màu đậm. Cột chặt. Cái gì nằm trong túi rác? Nó to vừa để chứa xác một người chết. Và cũng có thân xác những người sống, lẫn lộn ngập ngụa trong đống rác, những con người mặt mày hung tợn lẩn trong bóng tối. Và bên trên thành cầu, tiếng xe lửa chạy ầm ầm—tiếng xe lửa chạy về trạm ga nghe từ bên dưới đường sắt. Năm, sáu trăm chuyến xe lửa mỗi ngày, ngay trên đầu.

Để đến phòng trọ của Merry bên cạnh xa lộ McCarter, bạn phải bước qua cái gầm cầu đó, cái gầm cầu khiếp hãi như bất kì gầm cầu xa lộ nào trên thế giới chứ không riêng gì ở Newark này.

Cha con đi bộ bởi cô không muốn lên xe cho anh lái. “Bố! Con chỉ đi bộ chứ không đặt chân lên ô tô bao giờ,” thế là anh đành bỏ xe lại đại lộ Railroad cho ai đó đến lấy trộm, và cuốc bộ mười phút đồng hồ bên cạnh cô đến phòng trọ, đi được mươi bước suýt nữa nước mắt anh đã trào ra nếu anh không luôn tự nhắc nhở thầm, “Đây là đời sống! Đây là đời sống cha con mình! Mình không thể để mất con,” và nếu anh không nắm tay cô trong lúc đi xuyên qua cái gầm cầu kinh khiếp đó, “Đây là bàn tay con mình, bàn tay Merry. Không có gì trọng đại hơn bàn tay con gái mình.”

*

Cô kể anh nghe những chặng đường cô trải qua.

Và anh nghe với tâm trạng gì? Thắc mắc: Giả như có lúc trong đời sống gia đình trước khi cô đi vào con đường lầm lỡ, lúc đó là lúc nào và ở đâu? Suy nghĩ: Chẳng bao giờ có lúc đó, chẳng bao giờ có một Merry ngoan ngoãn vâng lời, suốt chừng đó năm trời cô đánh lừa vợ chồng anh, cho vợ chồng anh cảm tưởng cô an toàn nằm dưới sự bảo bọc của cha mẹ. Suy nghĩ: Vô ích thôi, mọi việc anh làm. Chuẩn bị, tập tành, trách nhiệm; quên mình để chu toàn những điều thiết yếu, những gì quan hệ nhất; xây dựng một cách có hệ thống, quan sát tỉ mỉ mọi vần đề, lớn hay nhỏ; không phó mặc, không buông thả, không lười nhác; kiên trì làm tròn mọi bổn phận, năng nổ đáp ứng mọi yêu cầu  .  .  .  danh sách dài như Hiến pháp nước Mĩ, những tín điều của anh—và tất cả đều vô ích. Tất cả chỉ là sự hệ thống hoá những điều vô ích. Còn lại là chính anh, kẻ bị trói buộc bởi muôn vàn trách nhiệm.

Suy nghĩ: Con mình không ở trong tay mình, nó chẳng bao giờ nằm trong tay mình cả. Số phận nó nằm trong tay một thế lực khốn nạn. Cái gì hết sức là điên rồ. Tất cả chúng ta đều thế. Người lớn không mang trọng trách này. Chính họ không ai chịu trách nhiệm này. Có cái gì khác.

Vâng, ở tuổi bốn muơi sáu, năm 1978, sau gần ba phần tư thế kỉ xác trẻ nít và cha mẹ chúng bị băm vằm quăng ra bừa bãi khắp nơi, Swede mới nhận thức là tất cả chúng ta đều nằm dưới sự kiềm toả của thứ thế lực vô cùng điên khùng đó. Ông bạn ơi, chỉ là vấn đề thời gian thôi. Tất cả chúng ta đều chịu chung số phận!

Anh nghe tiếng chúng cả cười, bọn Weathermen, bọn Panthers, đoàn binh ô hợp đầy phẫn nộ của những con người Bất Tha Hoá bạo tàn, bọn chúng gọi đích danh anh là kẻ tội phạm và thù ghét anh cay đắng chỉ vì anh là kẻ có của. Cuối cùng Swede nhìn ra! Chúng sung sướng đến mê say, hả hê vì huỷ hoại được cô gái cưng của anh, đời sống riêng tư anh cũng bị chúng phá nát, rốt cuộc chúng lùa anh lọt vào chân lí của chúng, một chân lí như chúng biết là chân lí của mỗi người đàn ông, đàn bà, trẻ nít Việt Nam, mỗi cộng đồng da đen trong nước Mĩ, bất kì người nào trên mặt đất bị rút rỉa bởi bọn tư bản tham lam tàn độc. Sự điên khùng chính là lịch sử nước Mĩ! Đó là đế quốc Mĩ! Đó là Chase Manhattan và General Motors và Standard Oil và Newark Maid Leather! Xin mời các ngươi vào, bọn chó tư bản! Hân hoan chào mừng nhân loại nằm-dưới-sự-dày-xéo-của-nước-Mĩ!

Cô thuật lại bảy mươi hai tiếng đồng hồ sau vụ nổ bom, cô trốn tại nhà riêng của Sheila Salzman, người nữ bác sĩ trước đây giúp cô chữa bệnh nói lắp, ở Morristown. Cô an toàn mò đến nhà Sheila, được bà cho vào nhà và ban ngày ẩn náu trong phòng đợi bên cạnh văn phòng làm việc của bà còn ban đêm cô ngủ ngay trong văn phòng. Thế là bắt đầu cuộc sống lẩn trốn của cô. Trong vòng hai tháng trời, cô có đến mười lăm cái tên giả khác nhau và cứ bốn năm ngày lại phải di chuyển chỗ ở. Nhưng khi đến Indianapolis, cô làm quen với một đại diện phong trào, người này chỉ biết cô là thành phần phản chiến đang sống lẩn trốn chính quyền. Cô ra nghĩa trang thấy trên bia mộ tên đứa bé sơ sinh sinh cùng năm với cô, cô lấy tên đứa bé làm tên mình rồi đi xin giấy khai sinh, và từ đó cô có cái tên khác là Mary Stoltz. Sau đó, cô còn đi xin thẻ thư viện và số An sinh Xã hội, và bằng lái xe khi cô mười bảy tuổi. Trong gần năm trời—qua sự giới thiệu của người đại diện—Mary Stoltz kiếm sống bằng nghề rửa chén trong nhà bếp một viện dưỡng lão, cho đến một buổi sáng ông ta gọi điện thoại và bảo cô phải đến gặp ông ta ngay tức khắc tại bến xe đò Greyhound. Tại bến xe, ông ta nhét vào tay cô cái vé xe đi Chicago, bảo cô ở lại đó hai ngày rồi mua vé đi thẳng sang Oregon—phía bắc thành phố Portland có khu trại tập thể nơi cô có thể dùng làm nơi ẩn náu. Ông ta cho cô địa chỉ khu trại tập thể và ít tiền để mua quần áo, thức ăn và vé xe đò, cô đến Chicago, tại đây, ngay đêm đầu tiên, cô bị hãm hiếp. Bị bắt cóc, hãm hiếp, trấn lột. Mới mười bảy tuổi đầu.

Tại nhà bếp một quán rượu tồi tàn dưới mặt đường và không được tử tế như nhà bếp viện dưỡng lão, cô rửa bát kiếm tiền đi Oregon. Ở Chicago không ai trợ giúp cô và cô cũng không dám bắt liên lạc với người trong phong trào bởi cô sợ không may có chuyện gì sai lầm cô sẽ bị công an bắt. Ngay cả dùng điện thoại công cộng gọi cho người đại diện phong trào ở Indianapolis cô cũng không dám. Cô bị hiếp lần nữa (tại phòng trọ thứ tư) nhưng lần này cô không bị cướp tiền, và vì thế sau sáu tuần lễ rửa bát cô dành dụm được ít tiền đủ để lên đường sang Oregon.

Thời gian ở Chicago, nỗi cô độc phủ trùm, cô cảm thấy nó như dòng nước xuyên chảy qua người cô. Không ngày nào, có hôm không giờ khắc nào cô không nghĩ đến chuyện ra gọi điện thoại về nhà ở Old Rimrock. Nhưng lần nào cũng thế, trước khi kịp nghĩ ngợi đến căn phòng thời thơ ấu của mình vốn có thể hoàn toàn biến đổi con người hiện tại của cô, cô tạt vào tiệm ăn nào đó rồi ngồi tại quầy ăn, gọi nhà bếp làm cho mình cái bánh mì kẹp thịt cùng li sữa đánh kem va-ni. Lần nào cũng một câu nói tương tự, đoạn cô ngồi nhìn miếng thịt mỡ heo co rút trên mặt chảo nóng, nhìn lát bánh mì nhảy lên từ lò nướng, cẩn thận rút cây tăm cắm trên ụ bánh khi phần ăn được mang lên, vừa ăn vừa uống sữa đánh kem, đặt hết tinh thần nhai từng cùi rau diếp nhạt thếch, cho thấm vào miệng vị béo xông khói của miếng thịt mỡ heo chiên giòn và vị ngọt của lát cà chua mềm mại, nuốt vào bao tử mọi thứ cùng với bánh mì quết xốt me-on-ne, kiên nhẫn cho xương quai hàm và hàm răng làm việc, nghiền nát từng miếng trong miệng để nỗi u hoài trong lòng dịu xuống—cô chăm chú đặt hết tinh thần vào phần ăn như đàn bò mẹ cô nuôi chăm chỉ nhai rơm trong máng—cho cô can đảm một mình tiếp tục cất bước. Cô ăn hết đĩa bánh và uống cạn li sữa đánh kem, lòng hồi tưởng lại chặng đường đã qua và hình dung ra chặng đường trước mặt. Khi rời Chicago, cô khám phá ra một điều, đó là cô không cần có một mái nhà; cô sẽ không bao giờ để tình cảm mình chi phối phải nặng lòng lưu luyến mái ấm gia đình.

Ở Oregon, cô dính líu đến hai vụ đặt bom.

Thay vì ngưng tay, cô thấy tinh thần phấn chấn hơn sau vụ đánh bom gây tử vong người đàn ông tên Fred Conlon; sau Fred Conlon, thay vì bị lương tâm đánh gục, cô rũ sạch mọi sợ hãi vu vơ và niềm ăn năn hối hận. Nỗi kinh hoàng sau khi giết người, dù không chủ tâm, một người vô tội, một người tốt lành như bất kì con người tốt lành nào cô muốn gặp, không hề dạy cô bài học về điều ngăn cấm cơ bản nhất, và dù được cha mẹ nuôi nấng dạy dỗ, trong cơn mê loạn say sưa cô không nhìn ra. Cái chết của người đàn ông tên Conlon chỉ làm gia tăng niềm tin tưởng cuồng nhiệt của cô vào lí tưởng cách mạng, cô không nhụt chí dùng những phương tiện, dù tàn bạo đến đâu chăng nữa, để tấn công vào thành trì tội ác. Chống đối lại bất cứ thứ gì tốt đẹp trong cái nước Mĩ sa đoạ đều cao đẹp chứ không hoa hoè như những món đồ xinh xắn cô treo trên tường phòng ngủ của cô, cô chứng minh được như thế.

“Chính con là người đặt bom?” Anh hỏi cô.

“Vâng, chính con.”

“Ở Hamlin và Oregon, cũng chính là con?”

“Vâng.”

“Ở Oregon, có ai chết không?”

“Có.”

“Ai?”

“Người ta.”

“Người ta,” anh lập lại. “Bao nhiêu người chết, hả Merry?”

“Ba.” Cô trả lời.

Tại khu trại tập thể, đồ ăn thức uống không thiếu. Ở đó, người ta tự trồng trọt nhiều loại thực phẩm và vì thế cô không phải đêm đêm đi mò rau cải trái cây hư thối bên ngoài siêu thị như thời gian cô mới đặt chân đến Chicago. Cũng tại nơi đây cô bắt đầu ngủ với người đàn bà cô yêu, bà ta là vợ anh thợ dệt. Merry học chạy máy dệt từ anh thợ những lúc cô không bận lắp ráp bom. Lắp ráp bom trở thành tay nghề của cô sau khi cô thành công đặt quả thứ hai và thứ ba. Cô yêu thích sự kiên nhẫn và chuẩn xác cần thiết để nối dây nhợ từ thanh thuốc nổ vào bộ phận nổ và từ bộ phận nổ vào cái đồng hồ báo thức Woolworth. Đây là lúc tật nói lắp của cô dần dà biến mất. Cô không bao giờ nói lắp trong lúc làm việc với thuốc nổ.

Bỗng xảy ra chuyện bất hoà giữa vợ chồng anh thợ dệt, hai người cãi nhau kịch liệt và Merry phải bỏ khu trại tập thể ra đi để tìm lại sự yên ổn trong trại.

Giữa thời gian nương náu ở Idaho, nơi cô làm việc trong những rẫy khoai, cô quyết định trốn sang Cuba. Đêm đêm trong căn phòng khu ba-rắc của nông trại cô học tiếng Tây Ban Nha. Sống chung đụng với những thành phần lao động trong nông trại, cô càng cảm thấy tin tưởng hơn vào con đường mình đang theo đuổi, mặc dù những gã nông dân uống rượu vào say sưa làm nhiều điều sằng bậy dễ sợ và cô lại bị hiếp nhiều lần. Cô tin là sang Cuba cô có thể sống bên cạnh những công nhân mà không phải e sợ sự bạo hành từ họ. Ở Cuba cô vẫn là Merry Levov chứ không phải Mary Stoltz.

Tại thời điểm này cô đi đến kết luận là sẽ chẳng bao giờ vận động được cuộc cách mạng bên trong nước Mĩ để lật đổ mọi lực lượng kì thị, phản động và tham tàn. Chiến tranh du kích trong thành thị là vô ích thôi khi phải đương đầu với một siêu cường nguyên tử không hề ngần ngại dùng bất cứ biện pháp nào để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của nó. Bởi cô không hỗ trợ được cuộc cách mạng bên trong nội địa nước Mĩ, hi vọng duy nhất của cô là hiến thân cho cuộc cách mạng đã mở màn. Nếu được vậy, cuộc sống lưu vong của cô có cơ chấm dứt và giai đoạn mới thật sự bắt đầu.

Năm kế đó cô tập trung mọi cố gắng tìm đường xuống Cuba, tìm đến Fidel, người giải phóng giai cấp vô sản và xoá tan mọi bất công với chủ nghĩa xã hội. Nhưng tại Florida lần đầu cô chạm trán với công an liên bang. Tại Miami có một công viên đầy dân tị nạn Dominica la cà. Nơi đây thật tốt cho cô tập nói tiếng Tây Ban Nha và chẳng bao lâu cô biến thành cô giáo dạy tiếng Anh cho đám thanh thiếu niên. Chúng mến cô lắm và gọi cô là La Farfulla, cô gái cà lăm, cô bỏ qua, tha cho chúng trò tinh nghịch nói lắp theo cô những chữ tiếng Anh cô dạy chúng đọc. Nhưng cô nói tiếng Tây Ban Nha khá lưu loát, không ngọng ngịu, ngập ngừng chút nào. Thêm một lí do nữa để chạy theo cánh tay cách mạng thế giới.

Một hôm, Merry thuật tiếp, cô để ý thấy một gã da đen lạ mặt đi lang thang đến công viên kín đáo quan sát cô dạy học bọn thanh thiếu niên. Cô nhận ra ngay điều này có nghĩa là gì. Một ngàn lần trước đó cô nghĩ FBI đang theo dõi cô và một ngàn lần cô lầm tưởng—ở Oregon, Idaho, Kentucky, Maryland, FBI theo dõi cô lúc cô đứng bán hàng trong tiệm tạp hoá; lúc cô ngồi ăn trong tiệm ăn; lúc cô rửa bát nơi phòng ăn tập thể; lúc cô về nhà nơi cô cư ngụ trên con phố tồi tàn; lúc cô trốn trong thư viện nơi cô đọc báo và nghiền ngẫm tư tưởng những nhà cách mạng, thông hiểu Marx, Marcuse, Malcolm X, và Frantz Fanon, nhà lí thuyết người Pháp mà mỗi câu văn của ông, như bài kinh cầu trước giờ đi ngủ, đã giúp cô vững vàng chõi dậy tương tự như li sữa đánh kem và đĩa bánh mì kẹp thịt. Phải luôn luôn ghi nhớ người đàn bà Algeria biết được vai trò của bà vừa là “người đàn bà cô độc ngoài đường” vừa là người, bằng bản năng, mang trên vai sứ mệnh cách mạng. Người đàn bà Algeria không phải là gián điệp bí mật. Không hề được tập luyện, không hề được chỉ bảo, không hề ồn ào, bà bước ra đường với ba quả lựu đạn trong sắc tay. Bà không chủ
tâm đóng một vai trò nào. Không có nhân vật nào để mô phỏng hay bắt chước. Mặt khác, có sự bi kịch hoá đầy mãnh liệt, sự liền lạc giữa người đàn bà và cuộc cách mạng. Người đàn bà Algeria chỗi dậy thẳng tiến tới mức độ của bi kịch.

Suy nghĩ: Và cô gái New Jersey tuột dốc xuống tới trình độ xuẩn ngốc dại khờ. Cô gái New Jersey cha mẹ gửi đi ăn học tại trường Montessori bởi cô quá giỏi giang, cô gái New Jersey tại trường Trung học Morristown điểm hạng chỉ có A và B—cô gái New Jersey vươn thẳng lên trình độ những trò chơi điếm nhục. Cô gái New Jersey vươn tới trình độ của căn bệnh thác loạn thần kinh.

Khắp nơi, tại các thành phố cô lẩn trốn, cô nghĩ cô trông thấy người của FBI theo dõi cô—nhưng Miami mới là nơi sau cùng cô trông thấy nguy cơ hiện rõ trong lúc cô dạy tiếng Anh cho lũ thanh thiếu niên ngoài công viên thành phố. Tuy vậy, cách nào cô phụ lòng lũ trẻ được? Cách nào cô ngoảnh mặt quay lưng lại lũ trẻ sinh ra đời không có gì trong tay đó? Lũ trẻ mà ngay với chúng cũng là rác rưởi trong thế giới loài người. Hôm sau ra công viên cô lại thấy gã lang thang da đen trẻ tuổi cầm tờ báo che mặt giả vờ nằm ngủ trên băng ghế, cô bỏ đi ngay và khi ra tới mặt đường cô chạy thục mạng, cô chạy mãi cho đến khi cô gặp người đàn bà mù đang ngồi ăn xin bên vệ đường, người đàn bà da đen to béo có con chó bên cạnh. Bà cầm trong tay cái li nhỏ lắc lắc lên xuống miệng nói thều thào, “Mù mắt, mù mắt, mù mắt.” Trên vỉa hè dưới chân bà là chiếc áo choàng bằng len rách bươm, và Merry nghĩ cô có thể trốn trong chiếc áo choàng đó. Nhưng cô chẳng thể nào cướp đại chiếc áo từ người đàn bà; thay vì thế cô hỏi người đàn bà cô có thể giúp bà ăn xin được không, bà trả lời được, Merry hỏi bà cô có thể mượn bà chiếc áo choàng và cặp kính đen được không, bà trả lời, “Cô gái cưng, cái gì già cũng có thể cho cô được,” thế là Merry mình mặc chiếc áo choàng cũ kĩ dày cộm, mắt đeo kính đen đứng dưới bầu trời nắng chang chang ở Miami tay lắc lắc cái li xin tiền trong lúc người đàn bà van vỉ “Mù mắt, mù mắt, mù mắt.” Đêm đó cô trốn dưới hầm cầu, nhưng ngày hôm sau khi cô mò lại chỗ bà già da đen ăn xin, lần nữa cô trá hình trong cái áo choàng và cặp kính đen, và cuối cùng cô vào sống chung với bà già và con chó của bà, từ đó cô trở thành người săn sóc bà.

Đó là thời điểm cô bắt đầu đọc sách về tôn giáo. Bunice, tên người đàn bà, hát cho cô nghe mỗi sáng khi còn nằm trên giường nơi cô ngủ chung với bà và con chó. Nhưng Bunice bị ung thư và qua đời, đó là thời kì u tối nhất: ở bệnh xá, khu ung thư, nhà quàn, cô là người thân duy nhất bên cạnh bà, cô mất đi người cô thương yêu nhất trên đời .  .  .  cô chưa bao giờ khổ tâm như vậy.

Thời gian Bunice nằm trên giường chờ chết, cô tìm thấy trong thư viện một số sách vở và sau khi đọc cô dứt khoát từ bỏ truyền thống Do-Thái-Thiên-Chúa để tìm kiếm cho bằng được tôn chỉ đạo đức vô thượng ahimsa, một tôn chỉ hướng thượng đời sống cùng lời nguyện sẽ không bao giờ gia hại bất kì sinh vật nào.

Cha cô không còn thắc mắc ở thời điểm nào đời sống cô vuột khỏi tầm tay kiểm soát của cha mẹ, anh cũng không tiếp tục suy nghĩ tất cả những gì anh làm đều trở nên vô ích và cô con gái anh bị khống chế bởi thế lực điên khùng nào đó. Thay vì thế, anh nghĩ Mary Stoltz không phải là con gái anh, bởi lí do giản dị con gái anh không thể nào chịu đựng nổi ngần đó khổ đau. Cô là đứa bé gái sống ở Old Rimrock, được nâng niu chiều chuộng hết mực bên trong thiên đường. Không đời nào có chuyện cô làm việc trong rẫy khoai và ngủ đêm dưới gầm cầu suốt năm năm trời, khốn đốn trong nỗi hãi sợ bị ruồng bắt. Cô không thể ngủ với người đàn bà mù mắt và con chó của mụ. Indianapolis, Chicago, Portland, Idaho, Kentucky, Maryland, Florida—không bao giờ Merry có thể một mình sống tại những nơi chốn đó, một người cô độc lang thang không cửa không nhà rửa bát kiếm ăn, trốn tránh cảnh sát, kết bạn với những kẻ nghèo hèn trong công viên thành phố. Và không bao giờ cô lại có ngày quay về Newark này. Không. Sáu tháng trời sống ngay đây, đi bộ xuyên qua con đường hầm, mặt che bằng tấm mạng và cứ thế đi bộ một mình, sáng cũng như tối, ngang bãi rác phế thải và tất cả những đồ vật bẩn thỉu—Không! Câu chuyện không thể có thật, mục đích của nó là tiêu huỷ nhân vật ác, kẻ đó chính là anh. Câu chuyện là bức biếm hoạ, bức biếm hoạ được thổi phồng, và cô là diễn viên, cô gái này là kẻ chuyên nghiệp, được chúng thuê với mục đích làm cho anh đau đớn bởi anh là cái gì hoàn toàn tương phản với chúng. Chúng muốn kết liễu đời anh bằng câu chuyện kẻ ti tiện sống lưu vong ngay tại vùng đất nơi gia đình cô nhiều đời thành đạt giàu có, và vì thế anh nhất quyết không chịu tin những gì cô kể. Anh suy nghĩ trong đầu, Hãm hiếp? Bom? Miếng mồi ngon cho bất kì thằng điên nào? Khổ ải không đủ diễn tả những gì cô trải qua. Địa ngục mới đúng. Merry không thể nào sống sót nổi. Cô chẳng thể nào sống sót sau khi giết chết bốn mạng người. Cô chẳng thể nào nhẫn tâm giết người vô tội và vẫn nhơn nhơn tiếp tục sống sau đó.

Rồi anh nhận ra cô không thể tồn tại. Bất kì sự thật là gì, bất kì chuyện gì thật sự xảy ra cho cô, lòng quyết tâm từ bỏ cuộc sống đáng khinh khi của cha mẹ cô đã đẩy cô xuống vực thẳm và huỷ diệt chính con người cô.

Cố nhiên tất cả những điều này đều có thể xảy đến cho cô. Khắp nơi trên mặt đất này mỗi ngày đều có những chuyện như vậy. Anh không hề có ý niệm người ta hành xử ra sao.

“Cô không phải là con gái tôi. Cô không phải là Merry.”

“Bố nghĩ như thế cũng được. Biết đâu đó lại là điều hay nhất.”

“Meredith, tại sao con không hỏi bố về mẹ con? Bố phải nhắc con sao? Mẹ con sinh ra ở đâu? Khuê danh của mẹ con là gì? Tên ông ngoại con là gì?”

“Con không muốn nói về mẹ.”

“Bởi vì con chẳng biết gì về mẹ con cả. Hay về bố. Hay con người con đang giả dạng. Con hãy nói về căn nhà bên bờ biển cho bố nghe. Tên cô giáo dạy con ở lớp một là gì? Lớp hai là gì? Này, cô hãy cho tôi biết tại sao cô lại đi giả dạng làm con gái tôi!”

“Nếu con trả lời bố những câu hỏi đó, bố chỉ khổ tâm thêm thôi. Con không biết bố muốn khổ đến đâu.”

“Ồ, này cô gái trẻ tuổi, cô đừng lo lắng tôi bị khổ tâm—cô cứ trả lời những câu hỏi của tôi. Tại sao cô giả dạng làm con gái tôi? Cô là ai? 'Rita Cohen' là ai? Hai người rắp tâm làm chuyện gì? Con gái tôi đâu? Tôi sẽ đi thưa cảnh sát trừ phi cô cho tôi biết tất cả sự thật và chỗ ở con gái tôi.”

“Bố, những gì con đang làm chẳng ai có thể đi kiện cáo.”

Chế độ luật pháp khốn nạn. Ngoài cái đạo Jain cực kì khốn nạn còn cái luật pháp cứt đái này nữa.

“Không,” anh bảo cô, “bây giờ thì không—bây giờ chỉ là sự khốn nạn cho tôi thôi! Nhưng chuyện cô làm trong quá khứ thì sao!”

“Con làm chết bốn mạng người,” cô trả lời anh, bình thản và ngây thơ như cô có lần bảo anh, “Hồi chiều con nướng bánh đấy bố ạ.”

“Không!” Anh hét to. Đạo Jain, luật pháp, sự ngây thơ cực kì ngu xuẩn, tất cả sự tuyệt vọng, tất cả tách rời cô ra khỏi bốn mạng người chết. “Không được! Không thể như thế này được! Cô không phải là người đàn bà Algeria! Quê cô không phải là Algeria, cũng không phải Ấn Độ! Cô là cô gái Mĩ nhà cửa ở Old Rimrock, New Jersey! Một cô gái Mĩ vô cùng, vô cùng lầm lỡ! Bốn mạng người! Không!” Và giờ đây anh không chịu tin vào sự thật, giờ đây anh thấy những tội lỗi cô làm phi lí hết sức và không thể nào có thật. Cô là đứa con thừa hưởng mọi ưu đãi phúc lành và vì thế chuyện cô đi vào con đường lầm lỡ là chuyện không bao giờ có thể xảy ra. Cả anh nữa. Chẳng bao giờ có chuyện đứa con do chính anh sinh đẻ có thể giết chết bốn mạng người. Chẳng bao giờ có chuyện đó bởi cô có tất cả những gì đời sống ban phát, đòi hỏi, và tất cả những gì xảy đến cho cô từ ngày cô mở mắt chào đời không thể nào biến cô thành kẻ giết người. Giết người? Gia đình này làm gì có chuyện đó. Không có chuyện đó trong cuộc sống ấm êm hạnh phúc. Họ Levov này chỉ bị gán cho cái tội tày đình đó thôi. Không, cô không phải, không thể là con gái anh. “Nếu cô khoe khoang không bao giờ nói dối, không bao giờ lấy của ai cái gì, lớn cũng như nhỏ—tất cả những thứ vớ vẩn đó, Merry, những thứ vớ vẩn hoàn toàn vô nghĩa—tôi xin cô hãy cho tôi biết sự thật.”

“Sự thật giản dị lắm. Đây là sự thật. Bố phải gạt bỏ mọi dục vọng và tính ích kỉ đi.”

“Merry! Merry! Merry!” Anh kêu lên, và không kềm chế nổi nữa, với tất cả sức mạnh cường tráng của người đàn ông, anh nhào lên cô trong lúc cô ngồi thu mình trên đống cao su dơ bẩn. “Merry ơi! Đây không phải là con! Con không bao giờ nhúng tay làm nổi những chuyện kinh khủng như vậy!” Cô không chống cự lúc anh lấy tay giật phăng tấm mạng che mặt. Tấm mạng cắt ra từ vớ chân đàn bà, nó che cằm cô nơi đáng lí phải là chỗ của gót chân. Thật không có gì hôi hám hơn món vật người ta đi dưới chân và cô lấy che miệng. Mình yêu thương con, con yêu thương mình—và kết quả nó lấy vớ chân làm khăn che mặt. “Nói! Nói ngay!” Anh ra lệnh.

Nhưng cô không chịu nói. Anh cạy miệng cô. Anh bôi xoá lằn ranh trước đây anh không bao giờ bước qua—không bao giờ dùng bạo lực với con cái. Nhưng giờ đây tất cả mọi cảm thông đều bị xoá nhoà. Không còn sự cảm thông nào nữa, mặc dù anh biết bạo lực rất phi nhân và cũng vô ích thôi, và sự cảm thông—đối thoại hợp lí giữa đôi bên cho đến khi tìm ra điểm đồng thuận—thật cần thiết để đạt đến kết quả lâu dài. Người cha, người không bao giờ dùng sức mạnh với con cái, người quan niệm bạo hành là hiện thân của phá sản đạo đức, dùng ngón tay cạy miệng con gái mình và bắt cô thè lưỡi ra. Một cái răng cửa trong miệng cô bị mất, một trong những cái răng đẹp. Điều đó chứng minh đây không phải là Merry. Suốt chừng đó năm đeo niềng răng, biết bao công lao giữ gìn cho hàm răng đẹp, cho lợi răng tốt, cho nụ cười xinh—đây không thể nào là cô con gái anh.

“Nói!” Anh lại ra lệnh cho cô, và cuối cùng mùi hôi thối từ thân thể cô xông lên mũi anh, mùi hôi thối nhất từ một con người, hôi thối hơn bất kì con người nào ngoại trừ đó là kẻ sống rệu rã hay xác chết rệu rã. Lạ thật, mặc dù cô bảo anh cô không tắm rửa bao giờ bởi làm thế sẽ tác hại đến nước, trước đây ít phút anh chẳng ngửi thấy mùi gì cả—lúc anh ôm cô ngoài đường hay khi ngồi đối diện cô trong căn phòng tối mờ mờ—không gì ngoài cái mùi là lạ, chua chua, thum thủm khiến anh liên tưởng đến toà nhà đẫm mùi nước tiểu lưu cữu. Nhưng mùi anh ngửi thấy bây giờ, trong lúc bắt cô há to miệng, là mùi hôi thối của con người, một con người điên loạn loay hoay tìm kiếm lạc thú trong đống cứt của chính mình. Mùi hôi thối từ người cô bốc lên anh. Thật kinh tởm. Con gái anh là con người hư thối nồng nặc mùi hư thối của cặn bã. Mùi thối từ cô là mùi thối của tất cả những gì hữu cơ tan rữa. Nó là mùi thối của cái gì không liền lạc. Nó là mùi thối của con người cô bây giờ. Cô có thể nhúng tay vào những chuyện kinh khiếp đó chứ, và cô đã làm, cái tôn chỉ phải biết quý trọng đời sống là sự bỉ ổi sau cùng.

Anh cố tìm kiếm một cơ bắp nào bên trong anh để bít kín cổ họng, cái gì đó giúp anh ngưng lại ngay đây, đừng đẩy anh sâu thêm nữa xuống vũng lầy nhầy nhụa, nhưng tuyệt nhiên không có cơ bắp nào như thế. Ruột gan anh quặn thắt thức ăn chưa kịp tiêu hoá cùng chất chua, lưỡi anh thấy lợm vì vị đắng a-xít từ bao tử xông lên, và lúc anh hét “Cô là ai!” anh mửa thốc mửa tháo xuống mặt cô.

Trong bóng tối nhờ nhờ của căn phòng, khi nằm đè lên cô anh biết thật rõ cô là ai. Cô không cần mở miệng với khuôn mặt trần trụi không che đậy cho anh biết cái không thể giải thích đã vĩnh viễn thế chỗ cái anh vẫn đinh ninh trong đầu xưa nay. Nếu cô không mang nhãn hiệu Merry Levov trên người nữa vì hết tật nói lắp, đôi mắt vẫn là mắt cô, không sai chạy vào đâu được. Bên trong hốc mắt sâu hoắm và to quá khổ, đôi mắt đó là mắt anh. Dáng người cao cao là anh, đôi mắt của anh. Toàn thể con người cô là anh. Cái răng hở thì bị nhổ hoặc bị ai đánh văng đâu mất.

Lúc anh lui ra cửa cô không nhìn theo mà hốt hoảng nhìn quanh căn phòng chật hẹp như thể trong lúc điên cuồng anh đã gia hại không biết bao nhiêu vi sinh thể vô hại sống chung với cô trong cô độc.

Bốn mạng người. Thảo nào cô biến mất. Thảo nào anh biến mất. Đây là con gái anh, và không ai hiểu nổi cô. Tôi là cha kẻ sát nhân này. Anh mửa lên mặt cô, khuôn mặt ngoại trừ đôi mắt, giờ đây không có nét gì giống mặt cha hay mẹ. Tấm mạng che mặt của cô rơi xuống, nhưng đằng sau còn có tấm mạng khác. Phải thế không?

“Đi về nhà với bố.” Anh van cô.

“Không! Bố đi đi. . . Đi.”

“Merry, con bắt bố phải làm một việc vô cùng đau đớn. Con bắt bố bỏ con nơi đây. Bố vừa tìm ra con.” Anh vẫn van xin. “Đi. Đi về nhà với bố.”

“Bố, bố hãy để con yên.”

“Nhưng bố phải gặp con. Bố không thể để con lại nơi đây. Bố phải gặp con.”

“Bố gặp con rồi đấy. Bây giờ con xin bố ra khỏi nơi đây. Nếu bố còn thương con, hãy để cho con yên.”  ./.

Trịnh Y Thư trích dịch từ tiểu thuyết American Pastoral,
( tủ sách Vintage Books, NXB Random House, New York, 1998).

---------------------------------------------------------------------------------------------------------------
trích từ TRANG VĂN HỌC NGHỆ THUẬT PHẠM CAO HOÀNG
=============================================