Thứ Ba, 10 tháng 7, 2018

Thông báo: "về việc tạm ngưng viết " blog Virgil Gheorghiu/ Tp



------------------
 THÔNG BÁO
------------------

 - Kể từ ngày 10 tháng 7 / 2018; tôi tạm ngưng viết blog" Virgil Gheorghiu".
Xin thông báo để bạn đọc tường.

 THẾ PHONG
 [i.e. Đỗ Mạnh Tường 1932-   ]

Thứ Hai, 9 tháng 7, 2018

"sinh nhật lần thứ 86 của tôi "/ Thế Phong -- ( July 10, 2018.)



                                                sinh nhật lần thứ 86 của tôi
                                                                      Thế Phong







8 tháng 7 năm 2018,

Tổ chức sinh nhật của tôi  tổ chức trước 2 ngày ở Nhà hàng No Name gần nhà.

Nhớ lại năm 2012, cũng ở quán này; tôi tiếp nhà làm phim Larry Johnson ở Oregon đến phỏng vấn "nhà văn Thế Phong Saigon ở thập niên '60 ".

 Giá cả có tăng gấp 2  "cơm Tây, giá Việt"  vẫn chấp nhận được.

 Tôi đến sớm hơn giờ hẹn; gọi trước ly cà phê đen nóng "độc ẩm".

 Nhìn ra ngoài trời, nắng chói chang;  nhìn thấy chiếc xe Ford/ Ranger (Pick up) mới toanh, đậu trước nhà hàng; rồi con trai tôi mở cửa bước ra. " -- có lẽ  cậu 'Dê Tam Bố'(tên gọi ở nhà) mới mua xe.?

 Tôi vẫy tay, rồi đi ra cửa đón cậu.

  Không thấy cháu nội Quang Minh; tôi hỏi:

 " ... sao chỉ có mình con?"
" ... Quang Minh ; và ai... ở trong xe".

Dê Tam Bố bế xốc con trai ra  khỏi xe, nó khóc inh ỏi.

 Tôi ngạc nhiên; nhìn thấy có bóng một người đàn bà ngồi ở băng sau xe Pick up?
" Còn ai ở trong xe? " -- tôi hỏi
"  Vân bế cháu  Khuê mới sanh hôm Tết vừa rồi, bữa nay ra mắt ông bà nội."

Vợ tôi nói vọng ra:
" Sao không mời vào?"

Tôi mở cửa xe, bế cháu nội gái; mời vợ Dê Tam Bố:
" ...để ông nội bế cháu nào, da dẻ hồng hào, trắng như bông bưởi ."

Vợ tôi đứng dậy bế cháu nội gái lần đầu tiên, Dê Tam Bố nói với mẹ:
" chúng con đặt tên Đỗ Minh KHUÊ;  hao hao giống tên bà nội ."

" chỉ thêm chữ U đặt giữa chữ KHÊ; dễ nhầm lắm đấy. Bố còn  nhớ là khi mục sư KHUÊ mới  đến nhận chức chủ tọa Chi hội Tin lành Thị Nghè, đã hỏi:
 " ... bà tên KHUÊ, tôi có biết..." -- lời mục sư Khuê .
"... vợ tôi giống hệt tên mục sư; có điều, phải thêm chữ U vào giữa.' - tôi trả lời.

Dê Tam Bố hỏi:
" Hà+ Như+ Thông + Thục chưa tới hở bố?"

" ...Thông bận việc,  không tới; còn Hà + Như  tới bây giờ -- và, con gái lớn Hà+ Như, cháu Bảo Nghi được học bổng "giao lưu văn hóa Mỹ+ Việt" tới trung tuần tháng 8 này qua bang Washington State ." -- tôi trả lời .

Tôi nhìn  vợ tôi vừa  bế cháu nội gái Đỗ Minh Khuê, vừa nói chuyện lần đầu với " con dâu", vợ thứ 2 của Dê Tam Bố -- và, thầm cảm ơn Chúa," đã hòa giải mối bất hòa, sau 5 năm."


THẾ PHONG
Sài gòn, 10 tháng 7/ 2018.



Thế Phong
"... Tôi đến sớm hơn, gọi ly cà phê đen nóng" độc ẩm..." -- lời TP

  - Vân ( vợ bs Nhị Khê / tên gọi ở nhà ' Dê Tam B)
                                                                              + cháu nội ĐỗQuang Minh


- bà nội Nguyễn Thị KHÊ bế cháu nội gái Đỗ Minh KHUÊ



trái qua, hàng bên trái:
- Lương Ngọc Hà (rể)+ bác sĩ Đỗ Nhị Tường  Khê + Vân ( vợ bs Nhị Khê bế con gái.)
hàng bên phải:
- Thế Phong+  các cháu ngoại Lương Như Tố Nghi
 + Lương Như BẢO NGHI (được học bổng giao lưu văn hóa Mỹ+ Việt.)
Đỗ Như Tường Khê ( mẹ của Tố Nghi + LƯƠNG NHƯ BẢO NGHI.)

Lương Như Bảo Nghi (phải) ôm cổ bà ngoại (Nguyễn Thị Khê)


Lương Như BẢO NGHI (trái) + Lương Như Tố Nghi  lúc nhỏ


trái qua, hàng bên phải:
- Đỗ Thục Tường Khê (giữa, quay lưng lại) +Đỗ Như Tường Khê+ Jenny ( con gái của Đỗ Thục Tường Khê) 
+ Nguyễn Thị Khê (giữa)
         hàng bên trái:
-Lương Ngọc  ( rể)+ bs Đỗ Nhị Tường Khê Đỗ Quang Minh + Vân ( con & vợ của bs Nhị Khê.)


trái qua : tấm ảnh từ 24 năm trước (1994) , Đỗ Nhị Tường Khê tốt nghiệp Đại học Y Dược tp. HCM.
chụp chung với mẹ ( Nguyn Thị Khê ) & bác sĩ Khôi ( đồng môn/ ngoài cùng.) 


                                                          =======================














" Nắng vàng trong rừng khô" / họa sĩ Trương Vũ -- blog PCH



SUNDAY, JULY 8, 2018

661. TRƯƠNG VŨ/ Nắng vàng trong rừng khô


TRƯƠNG VŨ
Nắng vàng trong rừng khô 

N Ắ N G  V À N G
- tranh Trương Vũ
sơn dầu trên bố, 30" x 24", thực hiện năm 2010
  
 Cách đây hơn ba mươi năm, khi còn ở Philadelphia, mỗi lần đi bộ từ nhà trọ đến trường đại học, tôi thường đi ngang một khu townhouse thuộc giới nghèo trên đường Chestnut. Nếu đi vào buổi sáng, khoảng mười giờ, có nắng tốt, thế nào tôi cũng nhìn thấy một người đàn bà ngồi trước thềm nhà. Da trắng, khoảng sáu mươi, tóc trắng như bạch kim, chải sát vào đầu. Lúc nào cũng vậy, người đàn bà ngồi im lặng, bất động, mắt nhìn xa, đăm chiêu, trông như một pho tượng của Rodin. Có vẻ như với bà những gì đang xảy ra trước mặt không có nghĩa gì cả. Tôi không biết bà đang nhìn gì, thấy gì. Chỉ có cảm giác là vào lúc đó trong đầu bà chắc bao nhiêu hình ảnh của quá khứ đang trở về, bao nhiêu tâm tư từng lắng sâu vào tâm khảm đang sống lại. Khó ai biết. Chỉ biết nơi con người đang ngồi bất động đó hiển lộ một sự sống khác, dường như chứa chất một thảm kịch nào. Những lúc như vậy, tôi đểu mơ có khả năng vẽ nên một chân dung đích thực, biểu hiện được những phức tạp của con người, những thứ phức tạp thường tạo nên một cái đẹp kinh hồn cho nghệ thuật. Giấc mơ đó không thực hiện được. Cũng có lúc, tôi muốn tìm hiểu hơn về bà, hoặc tìm cách nói chuyện với bà. Nhưng, tôi luôn ngần ngại, không biết làm cách nào và cũng không chịu khó suy nghĩ kỹ hơn phải làm cách nào.

Từ lúc rời Philadelphia đến nay, thỉnh thoảng tôi có trở về, có đi ngang con đường cũ, nhưng không bao giờ gặp lại con người đó. Hình ảnh người đàn bà ngồi như pho tượng trước thềm nhà vào mỗi sáng rất khó quên. Nó khiến tôi liên tưởng đến một vài hình ảnh khác, để viết ra những dòng sau đây.

Tôi có một người bạn trẻ, LLT, tốt nghiệp về phân tâm học ở đại học Johns Hopkins, Baltimore. Thời gian làm nghiên cứu sinh, T. tình nguyện vào làm trong một bệnh viện tâm thần ở Boston và tại một số tư gia do cơ quan tỵ nạn địa phương giới thiệu. Bệnh nhân của T. thuộc nhiều thành phần người Việt khác nhau, tuổi từ 15 đến 70. Ở đây, có những người đàn bà bị điên loạn sau khi trải qua những nỗi đau kinh hoàng trên biển, mất chồng, mất con, bị hãm hiếp,… Ở đây, có những đứa trẻ mới trước đó sống êm ấm với gia đình bỗng chứng kiếnnhững cảnh hãi hùng, rồi vụt cái, mất cha, mất mẹ, mất anh em, rồi ngơ ngơ ngác ngác trong một xã hội hoàn toàn xa lạ. Ở đây, có những người qua tuổi trung niênhoàn toàn mất định hướng, không đương đầu nổi với những đổi thay quá lớn, quá nhanh về hoàn cảnh, văn hóa, ngôn ngữ, xã hội. Ở đây, có những thanh niên mắc các loại bệnh về ảo giác, lúc nào cũng trông thấy những hình ảnh kỳ lạ, nghe những âm thanh ma quái luôn thúc giục mình làm những điều không phải, v.v. T. làm việc với những bác sĩ, y tá, cán sự xã hội địa phương. Sau năm năm, vì nhu cầu hoàn thành luận án, T. phải về lại trường rồi sau đó đi kiếm việc làm. Lúc T. rời Boston, có khoảng 25 phần trăm trong số bệnh nhân này hồi phục để có thể tiếp tục đời sống một cách tương đối bình thường như nhiều đồng bào khác của họ. Những người còn lại, theo hiểu biết của T., đa số sẽ không chữa trị được. Đời sống của họ như thế nào qua từng tháng ngày trong khu bệnh viện tâm thần, cho đến những giờ cuối cùng, ít tai biết. Đến nay, vì làm việc ở xa, T. không thể tình nguyện trở lại bệnh viện đó như trước, nhưng mỗi lần nói về những bệnh nhân cũ cũa mình T. vẫn còn đầy xúc động như nói về những người thân bất hạnh.

Viết đến đây, tôi chợt nghĩ đến trường hợp một người đàn bà tôi có nghe đến.  Đó là một phụ nữ trẻ đẹp khi cùng chồng và hai đứa con còn rất nhỏ vượt biển khoảng cuối thập niên 70. Trên đường vượt biển, thuyền họ gặp nạn, hai đứa con rớt xuống biển, người chồng vội nhảy xuống cứu và cả ba đều chết đuối. Thảm kịch xảy ra nhanh như chớp trước mắt chị. Chị và một số người khác được cứu sống. Chúng ta có thể mường tượng những gì xảy ra sau đó cho người đàn bà bất hạnh này. Sau một thời gian ở trại tỵ nạn, chị được đi định cư ở Mỹ, luôn giữ bên mình những kỷ vật của chồng và hai con, góp nhặt được sau tai nạn trên biển. Suốt gần mười năm kế tiếp, chị sống âm thầm với kỷ niệm lẫn với những ám ảnh kinh hoàng từ chuyến đi định mệnh đó. Không ai nghĩ rằng chị có thể trở lại đời sống bình thường. Cho đến khi có một người đàn ông khác đến. Tình thương, hiểu biết, kiên nhẫn, ân cần… đã mang lại chị một niềm an ủi. Họ thành vợ chồng. Trong nhà vẫn để bàn thờ của hai con và người chồng cũ, nhưng họ quyết định sống một đời mới. Không biết những năm tháng sau đó, những ám ảnh của quá khứ có thỉnh thoảng quay về, chen vào giữa họ, nhưng đây vẫn là một “happy ending”.  Chị may mắn hơn rất nhiều người đàn bà khác cùng cảnh ngộ, cùng là nạn nhân của thảm kịch trên biển đông trong thập niên đầu sau khi chiến tranh chấm dứt. Có nhiều người còn trải qua những kinh nghiệm hãi hùng hơn.

Cuối năm rồi, tôi hân hạnh gặp một thanh niên đến từ Việt Nam, do các con tôi mời về dùng cơm tối với gia đình. Người thanh niên ở khoảng tuổi ba mươi, nói năng nhỏ nhẹ, ăn mặc và ứng xử như mọi thanh niên bình thường khác. Khi trò chuyện với tôi, lúc nào cũng xưng “con” nên lúc đầu tôi ngỡ là bạn của các con tôi. Sau vài câu thăm hỏi mới biết đó là một linh mục thụ phong chỉ được vài năm. Sau khi thụ phong, ông tình nguyện đến coi sóc một viện mồ côi nhỏ ở Sài Gòn, dành cho những trẻ em bị HIV. Trong số này có những em còn cha mẹ nhưng bị bỏ vào đó vì cha mẹ không đủ khả năng nuôi dưỡng. Tuổi thọ của các em thường không quá mười lăm. Một số bác sĩ gốc Việt ở Mỹ khi về Việt Nam làm thiện nguyện có đến thăm viện mồ côi này. Xúc động về hoàn cảnh của các em và cảm kích về những nổ lực của ban điều hành và những người tình nguyện đến chăm sóc, cùng những khó khăn về nhiều phương diện, nhóm bác sĩ quyết định vận động giúp đỡ viện. Phần lớn sự trợ giúp đến từ các thân hữu Việt và Mỹ ở hải ngoại. Do đó, vị linh mục cùng với một em bị HIV với một y tá đi theo săn sóc được mời sang Mỹ gặp gỡ các thân hữu. Tôi có gặp bé gái đó. Xinh xắn, nói năng rất tự nhiên và lễ độ, dễ gây cảm tình của người đối diện. Mới nhìn tưởng chừng đó là một em bé khoảng mười tuổi nhưng thật ra em đã mười sáu tuổi, mà sức trưởng thành chỉ đến đó. Em nói năng rất tự chế, chấp nhận số phận mình một cách tự tại. Những người đã đến thăm viện mồ côi cho tôi biết các em ở viện không được trường học bên ngoài nhận nên viện tổ chức lớp học riêng cho các em. Các em được học hành và vui đùa như mọi trẻ em bình thường khác, mặc dầu tất cả đều biết mình sẽ rời cõi nhân gian này bất cứ lúc nào. Dĩ nhiên, thực hiện được điều đó không dễ. Vị linh mục cần sự hỗ trợ của rất nhiều người.

Nói đến những bác sĩ thích làm thiện nguyện, tôi nghĩ đến một người bạn trẻ khác, bác sĩ LTL, một chuyên gia về ruột. Ông thường mang sách vở về tặng và mời một số giáo sư y khoa Mỹ và Việt về giảng ở đại học y khoa Huế. Trong một chuyến đi như vậy cách đây khoảng mười năm, mỗi ngày ông đều thấy một bà cụ đẩy xe bán bánh mì đến chợ Bến Ngự, sáng đi chiều về, ngang qua nhà ông. Ông để ý thấy một chân của bà cụ đi đứng không được bình thường. Một hôm ông đến chợ, đến nơi bà cụ bán bánh mì, ngồi xuống xin phép xem chân bà, thấy ghẻ lở ăn sâu vào thịt. Sau đó, cứ hai ba ngày ông mang thuốc đến, tự tay chăm sóc vết thương. Khi vết thương gần lành hẳn, có thể tự chữa lấy được, cũng là lúc ông từ giã bà cụ về lại Mỹ. Bà ôm ông khóc. Ngày nay, LTL là một bác sĩ rất thành công ở Maryland. Ông có phòng mạch riêng, nhận làm chủ nhiệm khoa ruột của một bệnh viện quan trọng một thời gian, thỉnh giảng ở một đại học y khoa lớn, nhà cửa sang trọng, gia đình hạnh phúc. Mới đây, ông kể tôi nghe, vài tháng trước ông có về lại Việt Nam. Người đồng nghiệp ở y khoa Huế thường làm việc chung với ông trong những chuyến về thiện nguyện, trước đây khá nghèo, bây giờ lái một chiếc Mercedes mói toanh ra đón ông ở phi trường. Tôi thực sự mừng cho sự thành công của họ, mừng họ có nếp sống cao, vì họ xứng đáng được hưởng thành quả do tài năng và sức lao động của họ. Tuy nhiên, mỗi lần nghĩ đến LTL, hình ảnh đầu tiên hiện ra trong đầu tôi vẫn là hình ảnh một bác sĩ trẻ ngồi xuống chăm sóc ghẻ lở nơi bàn chân một bà cụ bán bánh mì ở chợ Bến Ngự.

Ở hải ngoại, chúng ta thường nói, thường ca ngợi những thành công cá nhân của người tỵ nạn hay con cháu những gia đình tỵ nạn.  Nhưng, chắc chúng ta cũng biết bên cạnh đó có rất nhiều người không thành công. Đặc biệt, có nhiều người rất thiếu may mắn đang kéo lê cuộc đời của họ trong âm thầm. Với bề ngoài lặng lẽ, họ chứa chất bên trong một thế giới riêng, thường khó hiểu với người xung quanh. Những cái thế giới như thế chắc phải có một sức mạnh nào đó, một sự nặng nề nào đó để kéo họ thu mình vào, không tìm được lối ra, hay không muốn tìm một lối ra. Cũng có thể, thế giới đó rất đơn giản, chỉ dung chứa một số phận không may, không thể làm gì khác hơn là chấp nhận nó như một định mệnh nghiệt ngã. Như trường hợp các trẻ em mồ côi bị HIV, như trường hợp bà cụ bán bánh mì ở chợ Bến Ngự, v.v. Nếu may mắn, họ có thể gặp những người có một tâm lượng lớn hơn bình thường, một sự thông cảm lớn hơn bình thường, cũng bằng một cách lặng lẽ đến giúp đỡ, chia sẻ nỗi đau của họ. Như người tu sĩ, người chồng, và những người trẻ tuổi tôi đã kể trên. Và, còn bao nhiêu người khác nữa chúng ta không thể nói hết ở đây.

Những việc làm đầy tình người của họ, dù nhỏ hay lớn, như những tia nắng vàng trong rừng cây khô, đã làm cuộc đời có ý nghĩa hơn. Và, nếu những cố gắng đầy chân tình đó biến đổi được một số phận không may hay mang lại một niềm vui, một tia hy vọng về tương lai cho một người bất hạnh, tôi cho đó là một thành công lớn. Một thứ thành công dễ khiến những người nghe đến trở nên thâm trầm hơn.

Trương Vũ
Maryland, tháng 5. 2010


-----------------------------------------------------------------------------------------------------------------
trích từ TRANG VHNT PHẠM CAO HOÀNG
-------------------------------------------------------------


' viết về nhà văn Sơn Nam' / Lê Phú Khải nguồn: posted by Phan Ba


Hồi ký Lê Phú Khải – Bản đầy đủ (kỳ 49)


Nhà văn Sơn Nam
- nhà văn Sơn Nam
Đó là Sơn Nam
Sơn Nam kể với tôi: Hồi tao mới lên Sài Gòn kiếm sống, một lần bà già tao từ quê lên hỏi: Mày lên đây làm gì để sống? – Viết văn. Bà già hỏi lại: Viết văn là làm gì? Tao biểu bả: Viết văn là có nói thành không, không nói thành có (!). Bả nổi giận mắng: Mày là thằng đốn mạt. Tao không cãi, chỉ làm thinh! Sau chừng như thương con quá, bà lại hỏi: Thế viết văn có sống được không? Tao bảo: Viết một giờ bằng người ta đạp xích lô cả ngày! Bả thấy vậy không hỏi gì nữa rồi lặng lẽ ra về.
Sơn Nam đã viết văn từ đó đến nay, 50 năm có lẻ. Tập truyện nổi tiếng nhất của ông là Hương rừng Cà Mau đã tái bản nhiều lần. Ông được độc giả tấn phong là nhà “Nam bộ học” với hàng loạt tác phẩm khảo cứu: Lịch sử khẩn hoang miền Nam, Đồng bằng sông Cửu Long, Văn minh miệt vườn, Cá tính miền Nam, Bến Nghé xưa … Ông rành về phong tục, lễ nghi, ẩm thực của dân Nam bộ. Mỗi buổi sáng, ông thường uống cà phê ở quán sân Nhà truyền thống quận Gò Vấp đường Nguyễn Văn Nghi. Ai có việc gì cần hỏi về đất nước con người Nam bộ thường ghé tìm ông ở đó. Kể cả mời ông đi tế lễ ở đình chùa! Có người làm ăn khá giả tìm ông để biếu ít tiền uống cà phê (!)
Dạo nhà xuất bản Trẻ thành phố Hồ Chí Minh tổ chức kỷ niệm 20 năm thành lập, có mời ông với tư cách là cộng tác viên ruột lên phát biểu trong buổi lễ long trọng đó. Ông nói ngắn gọn: “Tôi sức yếu quá, nếu khỏe như Huỳnh Đức thì đã đi đá banh rồi. Lại xấu trai nữa, nếu không đã đi đóng phim như Chánh Tín từ lúc còn trẻ. Vừa ốm yếu lại vừa xấu trai nên đành đi viết văn vậy. Bây giờ Nhà xuất bản Trẻ làm ăn khấm khá, các anh chị có cơm ăn, tôi cũng có chút cháo!” Mọi người cười rộ.
…Dạo Sài Gòn kỷ niệm 300 năm, Sơn Nam có theo một đoàn phim ra Quảng Bình dự lễ tưởng niệm Tướng quân Nguyễn Hữu Cảnh người Quảng Bình có công khai phá đất Nam bộ. Khi làm lễ, Sơn Nam giở gói đồ khăn đóng áo dài của mình đem từ Sài Gòn ra, mặc vô và tế lễ rất đúng bài bản. Các cụ Quảng Bình khen nức nở: Trong Nam người ta có lễ hơn cả mình ngoài này! Sơn Nam nói: Trong Nam cũng có nhiều thằng lưu manh lắm, nhưng cử người đi xa, phải cử thằng có lễ chớ! Các cụ Quảng Bình ngẩn người!
Trong giới nhà văn, Sơn Nam là tác giả được một nhà xuất bản lớn ở thành phố Hồ Chí Minh mua bản quyền toàn bộ tác phẩm. Khi tôi hỏi nhà văn giá bao nhiêu ông lắc đầu: “bí mật” (!)
Những lần trà dư tửu hậu với Sơn Nam như thế, tôi thường mời ông ăn trưa, vì biết ông đi bộ đến quán cà phê rồi ở đó đến tối mới về. Vào quán, bao giờ ông cũng kêu: Cho cái món gì rẻ nhất, ngon nhất, và ngồi được lâu nhất (!)
Sơn Nam để lại cho đời một sự nghiệp sáng tạo thật đồ sộ. Bao gồm nhiều đầu sách khảo cứu, truyện ngắn, tiểu thuyết. Đọc Sơn Nam người ta kinh ngạc về sự độc đáo của văn phong. Ông viết như nói, như một ông già Nam bộ kể chuyện đời trong quán cà phê. Nhưng sức nặng của thông tin và cảm xúc của người viết khiến lời văn biến hóa khôn lường. Đừng có ai đi tìm thể loại hay bố cục trong một truyện ngắn hay một cuốn sách của Sơn Nam. Nhưng đã chạm đến nó là phải đọc đến trang cuối. Vì càng đọc càng thấy yêu nhân vật của ông. Càng thấy yêu mảnh đất Nam bộ, miền cực nam của đất nước. Ông đã “viết mọi thể loại trừ thể loại nhàm chán” như có nhà lý luận đã tuyên bố! Có lần tôi nhờ ông viết một bài cho Đài tiếng nói Việt Nam để kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám ở Nam bộ. Mấy ngày sau, cũng tại quán cà phê ở Gò Vấp, ông đưa tôi bài Nhớ ngày Cách mạng Tháng Tám ở U Minhđánh máy bằng cái máy chữ chữ nhỏ li ti như con kiến. Đài phát xong tôi thấy “tiếc” quá, vì chữ nghĩa phát lên trời rồi gió bay đi. Tôi bèn gửi bài đó cho báo Cà Mau. Khi in lên, bạn đọc, cán bộ và đồng bào và các nhà nghiên cứu của vùng đất này đều kinh ngạc về trí nhớ của Sơn Nam. Bài báo đó là một tư liệu lịch sử sống động, chưa từng ai ghi chép được như thế về những ngày Cách mạng Tháng Tám ở U Minh. Thư gửi về tòa soạn tới tấp.
Riêng tôi có những kỷ niệm không dễ quên với Sơn Nam. Hồi chưa thống nhất đất nước, từ Hà Nội tôi đã đọc hầu hết các tác phẩm của ông do tôi làm ở ban miền Nam, có đường dây chuyển sách báo từ đô thị miền Nam ra cho cán bộ nghiên cứu. Đọc rồi mê luôn. Vì thế ngày cuối năm 1975, lần đầu tiên được vô Nam (trước khi đi còn phải đổi tiền như đi nước ngoài), tới Sài Gòn, việc đầu tiên của tôi là đi tìm Sơn Nam để biếu ông một chai rượu nếp Bắc. Tìm mãi, vô đến bốn con hẻm, bốn cái “xuyệch” (sur) ở đường Lạc Long Quân mới tìm được nhà ông. Nhưng ông đi vắng. Tôi đành gửi chai rượu cho vợ nhà văn. Bà hỏi tôi: “Chú là thế nào với ông Sơn Nam?” Tôi thưa: là độc giả hâm mộ Sơn Nam, từ Hà Nội vô phải ra ngay nên chỉ ghé thăm sức khỏe nhà văn.
Mười năm sau, lần đầu tôi gặp Sơn Nam tại quán cà phê ở Gò Vấp, tôi kể lại chuyện chai rượu 10 năm trước. Sơn Nam vẫn nhớ rành rọt: Tao không ngờ ở ngoài Bắc chúng mày cũng đọc tao kỹ như vậy.
Nói cho thực công bằng, những truyện ngắn như Trao thân con khỉ mốc của Phi Vân trong tập Đồng quê (giải nhất văn chương của Hội Khuyến học cần Thơ 1943) và Tình nghĩa giáo khoa thư trong Hương rừng Cà Mau của Sơn Nam là những kiệt tác đáng được đưa vào sách giáo khoa như Lão Hạc, Chí Phèo của Nam Cao đã được.
Lần cuối cùng tôi gặp Sơn Nam là cách đây vài tháng, tại nhà riêng của ông ở một con hẻm đường Đinh Tiên Hoàng. Hôm đó tôi đem một cái nhuận bút của báo Cà Mau về cho ông. Không ngồi dậy được, ông phải nằm tiếp khách. Bất ngờ ông hỏi tôi: Một tỷ là bao nhiêu tiền hả mày? Câu này ông đã hỏi tôi một lần, nghĩ là ông hỏi giỡn, nên lần đó tôi không trả lời. Nay ông lại hỏi, nên tôi thưa: Là một nghìn triệu “bố” ạ! Ông trợn mắt: Dữ vậy? Tôi nói: Không tin “bố” hỏi con gái “bố” kia kìa.
Khi biết rõ một tỷ là một nghìn triệu, nét mặt nhà văn nặng trĩu ưu tư. Có lẽ ông đang nghĩ đến những vụ tham ô, lãng phí cả trăm tỷ, ngàn tỷ mà ông đọc được trong những xấp báo đang để quanh người ông kia!
Nếu ai hỏi tôi về Sơn Nam, tôi sẽ trả lời: Sơn Nam là một nhà văn rất vui tính, đã… chết vì quá buồn!
14-8-2008
Sơn Nam đã đi xa. Nhiều người bây giờ còn nhớ câu nói dí dỏm của ông: “Làm văn chương là nghèo rồi. Nếu làm nghề này mà giàu được thì Ba Tàu Chợ Lớn đã làm rồi!”
Lúc còn sống, Sơn Nam ý thức một cách rõ ràng về cái sự nghèo của nhà văn. Bây giờ thì Sơn Nam của chúng ta không còn nữa. Nhưng nghĩ cho kỹ thì ông không nghèo. Trái lại, rất giàu có là đàng khác. Ngắm ngôi nhà lưu niệm Sơn Nam tọa lạc trên một thế đất 2000 mét vuông, nhìn ra phong cảnh cỏ cây, sông nước và những gì có trong ngôi nhà đó, người ta phải suy nghĩ như thế.
Ngày 13 tháng 7 năm Canh Dần, tức ngày 22 tháng 8 năm 2010, nhà lưu niệm Sơn Nam được vợ chồng chị Đào Thúy Hằng, con gái của nhà văn khánh thành nhân ngày giỗ thứ hai của ông, tại ấp 4 xã Đạo Thạnh ngoại ô thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang. Là một công trình văn hóa “phi chính phủ” nên ngày khánh thành không có giấy mời in ấn, dấu mộc nhiêu khê. Chỉ nhắn bằng điện thoại, ai biết thì tới. Tôi từ thành phố Hồ Chí Minh cũng được người ta “nhắn tin”, đến nơi thì thấy văn võ bá quan đủ cả. Đảo mắt một lược, tôi nhận ra nhà văn Nguyễn Quang Sáng từ thành phố Hồ Chí Minh tới, nhà văn Trang Thế Hy từ Bến Tre qua, soạn giả ca cổ Châu Thanh, hiệu trưởng trường đại học Tiền Giang, các văn nghệ sĩ của tỉnh… Chỉ còn cách đứng xa ngắm toàn cảnh nhà lưu niệm này vì bên trong khách đã ngồi chật cứng. Phải nói là đẹp. Nhà xây ba gian hai chái, hàn hiên rộng, thoáng mát, có cửa lá sách thông với ba gian bên trong. Một kiểu nhà ba gian hai chái ở miền Bắc, được các phú hào ở Nam bộ cải tiến cho hợp với miền Nam xứ nóng quanh năm. Đặc biệt, mái ngói hai tầng làm cho ngôi nhà rất bề thế. Anh Nghị, con rể nhà văn cho hay, chính anh lái máy ủi để ủi đất tạo thế một quả đồi thấp làm nền cho ngôi nhà. Vì thế, đứng từ thềm nhà nhìn ra, thấy được cả phong cảnh cỏ cây, sông nước phía trước. Để có được phong cảnh này, vợ chồng chị Hằng đã phải chắt chiu mua lại từng mảnh đất nhỏ của 5-6 chủ đất phía trước nhà trong gần hai năm. “Ông bà ta chỉ xây dựng phong cảnh một ngôi chùa, chứ không xây dựng một ngôi chùa.” Nguyễn Đình Thi đã có nhận xét xác đáng như vậy về kiến trúc đình chùa nước ta. Điều này rất đúng với nhà lưu niệm Sơn Nam. Chính vì vậy, từ khi nhà lưu niệm khánh thành, chị Thúy Hằng cho biết, ngày nào cũng có khách bốn phương tới thắp hương, tham quan, chụp hình lưu niệm.
Hôm đó là tháng áp Tết, mọi người bận rộn việc nhà, số khách thăm nhà lưu niệm không nhiều, nên tôi có thể thư thái xem các hiện vật bên trong. Ấn tượng nhất là ngay lối trước sân, phía bên phải là tượng Sơn Nam tạc trên một phiến đá dựng đứng, bên trái là bút tích, cũng được tạc trên đá: bài thơ duy nhất của ông, không đề, mà ông lấy làm lời tựa cho cuốn Hương rừng Cà Mau trong đó có hai câu kết mà bao nhiêu người thuộc:
Phong sương mấy độ qua đường phố
Hạt bụi nghiêng mình nhớ đất quê
Hầu hết tác phẩm của Sơn Nam được Nhà xuất bản Trẻ mua bản quyền, tái bản, được lưu giữ trong một tủ kiếng lớn chiếm hết một gian nhà. Nhiều cuốn sách đã bạc màu với thời gian của Sơn Nam, ấn hành từ những năm 70 thế kỷ trước đã được độc giả yêu mến đem đến tặng cho nhà lưu niệm, có chữ ký, tên tuổi, bút tích của người tặng. Tranh chân dung, tranh khắc gỗ, tượng gỗ, tượng đá, ảnh chụp Sơn Nam của các nghệ sĩ nhiếp ảnh, họa sĩ, điêu khắc gia nổi tiếng, chuyên nghiệp và nghiệp dư từ nhiều nguồn đã hội tụ về đây. Thành thử, xem nhà lưu niệm, người ta được thưởng thức nhiều phong cách, nhiều trường phái hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh cùng sáng tạo về Sơn Nam. Ví dụ, riêng ký họa, tôi được xem chân dung Sơn Nam do ba họa sĩ Tạ Tỵ, Lê Quang, Cù Huy Hà Vũ vẽ.
Tôi đặc biệt thích thú một cái máy chữ cổ, do một sinh viên có tên là Bùi Thế Nghiệp tặng nhà lưu niệm, kèm theo lá thư Sơn Nam viết lúc tặng anh cái máy. Số là, sinh viên Nghiệp là bạn đọc hâm mộ nhà văn. Cậu thường chở nhà văn đi chơi (Sơn Nam không biết đi xe đạp, xe máy – LPK). Lúc nhà văn bệnh nặng vào năm 2005, Nghiệp đến xin nhà văn một kỷ vật gì đó, phòng khi ông đi xa. Nhà văn đã cho anh cái máy chữ kèm theo lá thư nhỏ chứng nhận đây là máy chữ của Sơn Nam tặng. Nay đọc báo biết có nhà lưu niệm Sơn Nam, Nghiệp đến tặng lại. Nhìn cái máy chữ của Sơn Nam được lưu giữ, tôi bỗng nhớ đến cái máy chữ của văn hào Balzac trong nhà tưởng niệm Balzac(Maison de Balzac) ở nhà số 47 phố Raynouard Quận 16 Paris mà tôi đã có dịp đến thăm. Nhà tưởng niệm Balzac là căn hộ có 5 buồng nhỏ ở tầng trên cùng một ngôi nhà ba tầng lầu. Balzac (sinh thời cũng rất nghèo) đã trốn nợ trên tầng cao của ngôi nhà này từ năm 1840 đến năm 1847. Năm 1949 chính quyền thành phố Paris mua lại cả ngôi nhà rồi sửa chữa và năm 1960 mở cửa cho tham quan. Maison de Balzac có các tác phẩm của bộ Tấn trò đời (La Comédie humaine) và cái máy chữ. Sao nó giống cái máy chữ của Sơn Nam đến thế!
Bắt chước mọi người, tôi cũng đem đến tặng nhà lưu niệm bản thảo những bài mà tôi đã đặt ông viết cho đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam này không ở đâu lưu trữ và 10 tấm hình “có một không hai” tôi chụp những năm ông hay lang thang ở quận Gò Vấp. Có một tấm hình tôi bất chợt ghi lại lúc ông đang cúi xuống long khom viết trên một cái yên xe máy ngay giữa đường phố!
Với những nhà lưu niệm do người dân tự tạo nên như nhà lưu niệm Sơn Nam, ai dám bảo đồng bằng sông Cửu Long là “vùng trũng”văn hóa?
(Còn tiếp)

LÊ PHÚ KHẢI
[1942-         ]


-------------------------------------
      posted by Phan Ba
-------------------------------------

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2018

'nhà văn Văn Quang: " NGƯỜI Ở LẠI SÀI GÒN "/ Dương Hoàng Mai -- nguồn: Tiếng Quê Hương

 nhà văn Văn Quang: "Người ở lại Sài Gòn"

  DƯƠNG HOÀNG  MAI

vanquang
Vào tháng Tư -1975 hai chữ “ đổi đời” đột ngột đến với nhiều số phận khác nhau, đúng như câu“ Kẻ lên voi, người xuống chó”.  Hàng trăm ngàn người dân miền Nam không  chỉ phải “ xuống chó” theo nghĩa bóng mà bị đổi thật sự qua kiếp khác, kiếp “ vượn người“.
Khi thoát khỏi chốn rừng xanh, nơi ẩn náo không biết bao nhiêu trại cải tạo, bỗng chốc người ta được trở lại kiếp người, dù không hẵn đã là “ người tự do”. Người ta chỉ cảm thấy thật tự do khi thoát khỏi Việt Nam. Tự do đó rất đắt giá, vì phải đánh đổi bằng cả tài sản, sinh mệnh, luôn cả quê hương.
Nhưng có một người đã từ chối đến chốn Tự Do, nơi hàng trăm ngàn người đang mơ ước,  vào thời điểm trên, để giử lại cho riêng mình một thành phố.
Để được sống cùng niềm vui, nỗi buồn và gửi nhịp thở thành phố đó ra chốn tự do.
Sau 1975, nhà văn Văn Quang đã bị đưa qua nhiều trại tù từ miền Nam tới miền Bắc  trong khoảng thời gian dài hơn 12 năm. Sau khi ra tù, dù được bảo lãnh đi theo diện HO, ông đã từ chối, để ở lại Sài Gòn.
Giải thích lý do lựa chọn trên, ông đã  nói :
“Cuộc sống “lên voi, xuống chó” quay quắt, nếu nhìn như một kẻ ngoài cuộc, nó sinh động hơn một sân khấu với đầy đủ bi hài kịch thú vị. Có quá nhiều đề tài mới lạ cho mình ghi nhận. Làm một nhân chứng sống có lẽ hay hơn. Và cũng vì sự “gậm nhấm” của tôi về “người bạn đồng minh” nên tôi quyết định ở lại.” (Gió O phỏng vấn nhà văn Văn Quang-2007)
Với cuộc đời viết văn  gần 60 năm cầm bút, trong đó hơn 30 năm viết “chui” dưới chế độ XHCN, với hàng nghìn bài viết, hàng tháng, hàng tuần gửi đều đặn ra hải ngoại, trong các mục “Lẩm cẩm Sài Gòn Thiên Hạ sự “  hay “ Văn Quang viết từ Sàigòn” đã tạo nên tầm vóc
của 
“ Người ở lại Sài Gòn”.

Cuộc sống sau 75 được tô vẽ như một “Chân trời hồng cách mạng” từ từ  sậm màu đỏ máu.


Giữa xã hội rực lửa một màu đỏ, màu tím bị kết tội là màu của “ tiểu tư sản”.
Trong hoàn cảnh như thế, còn ai dám nhắc chi đến “ Chân trời tím” cùng những ngày tháng cũ xa xưa trước 75.
IMG_5207
“Anh yêu những chân trời tím. Màu tím của thắm thiết yêu đương. Của hai đứa chúng mình đi vào tình yêu, đi vào kỷ niệm. Anh sẽ đưa em tới đó. Anh sẽ sống bên em như màu tím và chân trời, nhưng anh biết không bao giờ, không bao giờ chúng ta tới đó…”
Ước mơ vừa chớm nở  đã ẩn hiện mối tuyệt vọng não nề trong “Chân trời tím” phải chăng không chỉ là số phận của nhân vật trong truyện mà đã là định mệnh tàn khốc dành cho nhiều người Việt Nam sau 75, ly tan, chia lìa để trọn đời ôm muôn vàn thương nhớ khôn nguôi.
Qua bao năm tháng dù bị vùi dập, bị xóa nhòa trong xã hội mới, “ Chân trời tím” vẫn còn đó  như một giấc mơ đẹp và buồn.
Sau cùng “ Chân trời tím” đã chính thức xuất hiện trở lại qua bản in vào năm 2006 của
NXB Tiếng Quê Hương.
Giữa cảnh hỗn mang của một xã hội „dở dở ương ương tiến lên Xã hội chủ nghĩa“,  ngòi bút của Tuổi trẻ, Tình yêu, Thân phận, Xã hội trước 75 đã chuyển ngoặc qua giai đoạn tàn khốc dữ dội . Xã hội bây giờ không còn chiến tranh nhưng có nhiều cảnh chém giết, tàn nhẫn hơn cả trên chiến trường, cùng nhiều chuyện “ khó tin nhưng có thật“ .
Chỉ đọc đề tựa vài bài phóng sự của ” Văn Quang viết từ Sài Gòn”, người ta đã thấy bộ mặt trăm chiều lầm than, khốn khó của “ hiện thực xã hội” hoàn toàn không có màu tím, có chăng chỉ một màu đen:
“… Xã hội đen, xã hội đỏ „, „Người nghèo phải chết „, „Một kiểu tra tấn quái đản nhất thời đại“, „Chỉ có người dân cười không nổi“, „Án bỏ túi áo” và “án bỏ túi quần”,“ Thuế nuôi vịt“ vv..
Giữa lúc nhiều ngòi bút lặng câm, bặt tiếng hay chỉ viết vu vơ những dòng thơ, văn “ ru mình, ru đời”, giữa thời buổi báo chí, văn nghệ bị kiểm soát, canh giử khe khắt, nhà văn Văn Quang đã  không ngần ngại cầm bút viết về các đề tài “ nhạy cảm”.
“Vâng, tôi sống như vậy đấy. Chẳng có gì phải che giấu, chẳng có gì phải khiếp sợ nữa. Còn gì nữa đâu mà khiếp sợ và tôi không làm điếu gì xấu, không “phá hoại”… thì cứ lừng lững mà làm. “Danh chính ngôn thuận” và “đường ta ta cứ đi”. Cái gì có thật thì tôi viết. Không bới móc lung tung, không phao tin đồn nhảm. Quyền phê phán là của người dân. Quyền bất bình cũng là của người dân về những điều có thật đã và đang xảy ra.”(Gió O phỏng vấn nhà văn Văn Quang-2007)“
Đánh dấu bước “ đổi đời” trong sự nghiệp cầm bút của ông là tác phẩm đồ sộ mang tên
 Lên Đời” , thiên phóng sự về những ” đổi đời trên quê hương”, gồm 2 quyển sách, hơn ngàn trang giấy, với những cảnh “lên voi, xuống chó” tại Viêt Nam sau 75.
IMG_5206
Qua đó nhà văn Văn Quang  đã là nhân chứng sống, người quan sát, nhà văn với tấm lòng yêu đồng bào, yêu xã hội, yêu nơi chốn mình đang sống, đặc biệt là tình yêu dành cho thành phố Sài Gòn, đã được khắc ghi qua bút ký “ 60 năm Sài Gòn trong tôi”.
Trong những ngày tháng ở lại Sài Gòn, ông có niềm vui qua từng buổi gặp lại bạn bè hòa quyện với nỗi đau khi “Chỉ trong 7 ngày 3 người bạn ra đi”.
Tuổi đời như ít hơn so với những  muộn phiền chồng chất khi phải nhìn cảnh SàiGòn đổi thay. Phải nhìn từng góc phố, con đường,  chốn thân quen bị tàn phá, đập bỏ, để nhiều ngày không còn muốn bước chân ra đường.


Đọc những bài phóng sự về hiện trạng xã hội ở Việt Nam, với từng hình ảnh chắt chiu, tỉ mỉ minh họa đến từng chi tiết, nhiều người đọc không hề biết, đó là công sức của một người cầm bút đã bước qua tuổi 80.
02- Van Quang truoc thiong xa Tax ngay 25-8-2014
Niềm an ủi của nhà văn Văn Quang hiện nay có lẽ là những buổi phát hình chương trình thể thao bóng đá, quần vợt. Ngoài hàng ngàn bài viết phóng sự diễn tả cuộc sống xã hội muôn chiều, ông còn có nhiều bài viết hiếm quý tường thuật sinh động, hào hứng, am hiểu về đá banh, gói ghém tình yêu bóng đá qua ngòi bút một nhà văn. Từ đó người ta cũng thấy ông không chỉ là một nhà văn mà thật sự là một phóng viên lão luyện trong làng báo chí Việt Nam. Dù ngòi bút như “ không có đất sống“ , không có lương, những thiên phóng sự của ông sau 75 sẽ sống mãi trong lòng hàng triệu độc giả  „online“, trong mạng ảo với những cảnh thực của „hiện thực XHCN“.
Khi nghĩ về ông, về “ Anh Hai Bàn Cờ“, tôi thường nhớ đến “Ngã tư hoàng hôn”,  tựa đề  tác phẩm ông viết ngay sau khi thoát chốn lao tù và là một trong những quyển sách đầu tiên của Tủ sách Tiếng Quê Hương.
Qua “Ngã tư hoàng hôn” độc giả hẳn phải ngạc nhiên trước sức sống bừng dậy của ngòi bút tưởng phải cạn kiệt sau 12 năm bị giam hãm chốn tù đày.
Vẫn còn đó  tình người vượt lên trên lòng hận thù, đưa chút ánh sáng hy vọng đến những cảnh đời bi đát .
Nhiều nhà văn lớn Miền Nam trước 75 như Nguyễn Thụy Long, Hoàng Hải Thủy, Duyên Anh… đã viết về xã hội đen, về những mảnh đời giang hồ, về  kiếp “ ngựa hoang”, đôi khi quá tàn khốc, dử dội như khắc câu “ hận đời đen bạc”  lên những trang giấy.
Qua các tác phẩm của nhà Văn Quang, dù được viết trước 75 hay sau 75, tính nhân bản, thuần lương, lương tâm, lẽ  phải… luôn có trên từng trang sách,  để người ta có thể tiếp tục hy vọng, tiếp tục cất bước, dù thật phân vân, không biết đi về đâu, vì như đang đứng giữa “ Ngã tư hoàng hôn”.


DƯƠNG HOÀNG MAI
Munich 22/ 05/ 2015
---------------------------------------
trích lại từ Tiếng Quê Hương
---------------------------------------