Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

truyện hoa đào
năm ngoái


THẾ PHONG





truyện hoa đào
năm ngoái
tập truyện vừa







NHÀ XUẤT BẢN THANH NIÊN






mở...

C
hín giờ tối, tôi vẫn băn khoăn, do dự nhiều; sửa soạn đi làm. Với tôi, tất nhiên là chín giờ tối. Từ mười giờ đêm đến hai giờ sáng. Bốn tiếng đồng hồ, có gì là lâu đâu! Tôi không quên N. cai gà nhắc tôi câu nói đó. Chiều hôm qua, khi chị đến thăm tôi, vì biết rằng tôi đã sinh cháu nhỏ ngoài ba tháng. Lại nữa, chị N. kể chuyện rằng trong những kẻ đến mua vui; ở những tiệm như Tự Do, Moulin Rouge, Olympia, đều là khách phong lưu mã thượng; không ai là không nhắc đến tôi. Một vì sao sáng của dĩ vãng, nói theo kiểu ở trong nghề, nay đã hoàn lương.
Tôi lập gia đình rồi thì không đi làm nữa. Vẫn chị N. kể chuyện về con Nguyệt: “bây giờ chắc Thủy không biết nó, nhưng nó biết tiếng Thủy. Nó là một gà được khách hào hoa mời bàn nhiều nhất. Nó hỏi chị có phải trước kia chị Thủy là hoa khôi của những vũ trường không? Chị gật đầu”...Trước khi ra về, N. còn tặng tôi cái phong bì mà trong đó tôi biết chắc rằng chị tặng gì và thấu hiểu rõ hoàn cảnh của chúng tôi bây giờ.
Tôi tiễn chị ra ngoài đầu ngõ; trước khi lên tắc xi, tiếng chào hỏi thiết tha vọng lại gợi cho tôi nỗi buồn đau. Đã mười năm, tôi sống với nghề này, thử thách nhiều đêm mặn nồng tình ái, thấu rõ tâm lý đàn ông của nhiều lứa tuổi. Nói rõ hơn như thuộc tâm tình con cháu trong nhà; chúng muốn và thích những gì, thì tôi đã đi guốc trong bụng từng một trong những đứa chúng nó. Dĩ vãng của tôi như mỗi người bạn thân thiết bủa vây. Như Đà Lạt của những ngày tôi hai mươi tuổi. Quán cà phê Huyền và những đứa con trai. Để rồi viên Thị trưởng đã ra lệnh trục xuất chúng tôi. Những tấm ảnh vào thời son trẻ của tôi mà vài tiệm chụp hình còn trưng bày. Theo như một anh bạn nhà văn của vợ chồng tôi kể lại: “...nào họ có bỏ đi vì vẫn nhớ một ngôi sao sáng vụt đến vụt đi, rồi đến tận phương trời xa”...Hình hài tôi vẫn còn như hiện diện trong thành phố mù sương. Cả những khung cảnh gần gũi như Suối Vàng, thác Pongour, Gougah, Rừng Thông. Mớ tóc dài như nước của Thủy. Vẻ ngây thơ xưa kia, bây giờ thay vào đấy; là chán và buồn về cuộc sống. Bạn bè chồng tôi thật nhiều và đủ loại. T1 là luật sư, T2 là giáo sư đại học, T3 là văn sĩ, T4 là thẩm phán, T5 là kỹ sư và T6. Còn tôi là T ngoại hạng. Bảy, tám chúng tôi họp thành một nhóm, tiếng dội của cuộc đời và cũng là âm thanh vang vọng của cuộc đời. Nhiều vui và nhiều ray rứt. Từ ba mươi, nhìn lại thấy cuộc đời không quá vui và không quá buồn. Chồng tôi là T6. Bây giờ tôi không muốn bỏ dĩ vãng. Tôi sẽ khó quên được những ngày ấy, trước khi lấy nhau. Thời kỳ 63 chưa đảo chánh, chồng tôi bị tù đày. Bao nhiêu là hình ảnh, bao nhiêu là nước mắt và tiếng cười chát chúa. Xa lộ vào những buổi chiều hàng ngày, hàng tuần. Với chiếc xe Hillman loại Minx của T4. Với cách tiêu tiền không biết tiếc tay, cũng vẫn của T4. Nói thao thao bất tuyệt và đầy lý sự của T1. Với cái nghèo, nhưng bất cần đời của T3, văn sĩ. Với nét lầm lì, nhiều suy tư của T5, kỹ sư. Còn là em của giáo sư đại học T2. Và dáng hào hoa, trí thức của T6, chồng tôi bây giờ; lại hay chơi trội. Anh ta còn là giáo sư Anh văn, dạy ở các trường tư thục. Những T. kia đang xiết chặt lấy tôi, thì đứa cháu lên gác gọi, hỏi xem dì nó đã sửa soạn xong chưa? Mẹ nó giục tôi đi làm; vì chị N. tới đón. Bao vây trong cảnh túng quẫn; vì từ lâu, chồng tôi không còn làm gì, sau ngày ở tù ra. Vì trước đó, anh tham gia vào Phong trào vận động Sinh viên, trí thức chống chính phủ Diệm. Anh ôm lấy tì vết cuộc đời lao tù; nên đau và ốm, thấm đòn, đành nằm khàn. Chúng tôi sinh ra cãi nhau; một phần vì đồng tiền eo hẹp và tính độc quyền quyết định của anh đối với gia đình. Lại giữa vào thời kỳ sinh nở; bao nhiêu thứ tiền cần phải chi dùng. Đồng tiền thu vào ít, tiêu ra nhiều; anh em bạn không sao giúp đỡ nổi nữa! Tôi còn biết làm gì, để bảo vệ hạnh phúc của chúng tôi bây giờ. Giữa lúc ấy, N. đến với tôi, như một ân nhân và cũng là một người gieo tai họa. Cứu vớt đường sinh kế, nhưng hạnh phúc mỏng manh đi. Tôi định từ chối không đi làm nữa. Cái nghề này tuy kiếm ra tiền dễ thật, nhưng tôi chán nó. Song đến lúc con trai kháu khỉnh của tôi thức giấc; nó khóc, tôi với tay kéo dây đưa võng, rồi lặng đi để ngắm nó. Văng vẳng dội lại từ đâu đây, một lời nói của ai đó; có thể là tôi, chồng tôi; chúng tôi và chúng tôi đành chịu khổ. Nhưng đứa con kia, con chúng tôi, tại sao nó lại bị khổ? Má hồng hồng thơm thơm của nó, đôi môi mọng kia thơm như hương trầm luân mà đầy thánh thiện; nó đã làm gì cho đời hắt hủi, bắt nó chịu số phận hẩm hiu. Tôi nghĩ vậy nên bấm bụng, đi ra phía bàn gương chải tóc. Tôi vẫn còn đẹp, cái đẹp buồn và trầm xuống; như một nghệ sĩ thẩm định, là căn cứ vào tâm hồn và đào sâu sau lớp da mày phấn sáp. Vóc dáng tôi, ở bề ngoài ư; còn toát ra nhiều vẻ khêu gợi và quyến rũ. Tôi không có vẻ đẹp - tỉa tách từng chi tiết buông rời. Một lần T3 bày tỏ ý kiến của anh về tôi; hình như tôi nhớ mang máng thế. Tôi xuống gác rồi ra phố cùng với chị N. Những lời an ủi của người bạn tuổi chị, vốn là người miền Bắc; nên tài hoa, lịch lãm, dễ khơi cho tôi niềm xúc động chân tình. Song tôi vẫn buồn nhiều hơn; vì là đêm khởi sự đi làm, qua nhiều năm bỏ. Đêm nay tôi lại phải làm đẹp lòng khách, bằng những câu nói thiết tha mà chắc gì tha thiết, hoặc phải dùng lời vũ phu cảnh cáo những thú tính lợi dụng của một số khách hàng. Một vòng tay ôm sát, một cái thúc bằng khuỷu tay, một cái véo đùi... Tôi thì đã chán ngấy sự giả dối, càng hơn nữa, là khi tiếp xúc với nhóm bạn bè của chồng tôi.
Tôi nhớ đến hôm nào T3 hỏi tôi: “...rồi ra Thủy sẽ trở thành nữ sĩ, vì Thủy chân tình và có tâm hồn”. Từ lâu, tôi không thấy T3 lại nhà chơi, tôi nhắc đến T3, thì chồng tôi lại như ghen bóng ghen gió. Tôi chắc chắn là giữa T3T6 có chuyện xích mích chăng? Thấy tôi ít nói, chị N. khuyên nhủ:
- Rồi ra nó lại quen đi Thủy ạ. Ai mà chẳng vậy. Em không biết chứ, trước ngày cách mạng, chị có ngờ đâu rằng lại còn được sống lại với cái nghề này. Mà em còn nhớ con C. chứ? Dạo này nó còn chán chường hơn em nữa cơ?
Tôi nhớ đến C. Một dạo, nó tưởng chừng đã xây dựng hạnh phúc với một chàng văn sĩ mặt ngựa, thiếu xương sống; lại sống kiểu hiện sinh nửa vời. Để cho vợ đi làm, còn mình ở nhà? Như là anh ta sống đời sống ký sinh trùng. Nhưng ba bảy hai mươi mốt ngày, C. phải bỏ nó. Cái quý nhất của nó, như C. kể; nó chỉ dùng đi tiểu thôi, vì đã bất lực rồi! Mà nó lại còn quá sức ghen. Ăn nhờ vợ thì thôi, chứ lại còn đòi ghen nữa kia à? Của quý đã không còn xài được mà còn giữ vợ. Nếu còn ghen thì đừng để vợ đi làm. Chị N. kể lại qua loa như vậy. “Con C. chán chường. Con C. đã học đòi hiện sinh của thằng chồng, cởi truồng giữa đám bạn bè chồng, uống rượu và đánh xì phé. Cũng chẳng đem lại sinh khí mới nào cho cuộc sống. Nó chán cả văn sĩ lẫn ông già. Bây giờ nó đi tìm nhân tình là thanh niên tóc tém, đời gọi là cao bồi, vì bọn này còn nhiều sinh khí nhiệt tình. Của quý còn dùng được nhiều việc, chứ không chỉ riêng dùng đi tiểu”.
Nghe xong truyện, tôi dửng dưng. Và riêng tôi, tôi định giấu chị N. về truyện gia đình tôi. Giữa tôi và T6. Nhưng chắc rằng chị N. cũng biết rõ một phần nào rồi. Như vậy, tại sao tôi lại còn biện bạch, chẳng hoá vậy là trơ trẽn quá sao? Nên giữ im lặng mà nghe là đắc sách nhất. Tới tiệm làm, tôi ngồi vào bàn. Nhưng tôi vẫn thấy mình như là khách, chứ không phải là vũ nữ. Vẫn còn gặp lại một số quen thuộc, nhưng vô cùng ít ỏi. Thêm một số khách mới, phần đông lạ mặt. Và bọn con nít mới lớn lên, là con nhà giàu; học đòi ăn chơi và tìm cảm giác lạ. Một bạn trẻ vào loại ấy đi qua nhìn thấy tôi, gọi giật lại:
- Thủy, em sang ngồi bàn với anh đi.
Trong lòng tôi, thầm nghĩ thôi, nó vào trạc tuổi thằng X, phăng của tôi hay lại nhà, trước khi tôi lấy T6. Nó hơi hỗn đấy nhé, nhưng nó là khách; còn tôi là vũ nữ đi làm, nên ai lại tỏ phản ứng làm gì. Tôi lại càng nhớ đến T3, thời gian gần anh; tôi bất chấp cuộc đời xã hội, tôi sống cho cuộc đời của tôi, thích nói thì nói, thích chán nói chán; không úp mở và che giấu sự bộc lộ tình cảm của mình một cách khác đi. Hẳn rằng bây giờ trái lại với đời sống có lối sống úp mở của tôi hôm nay. Thằng con nít mới lớn, làm sao nó biết tôi? Nghĩ là nghĩ vậy thôi. Tôi vẫn phải ra sàn nhảy với nó. Nó hành tôi, kể ra cũng ghê gớm; đáng đồng tiền bát gạo mà cha ông nó kiếm, rồi dành cho nó phung phá. Luật thừa trừ có nghĩa từ đấy.
Nó hỏi tôi:
- Anh nghe danh tiếng em từ ngày anh lớn. Bây giờ được hân hạnh nhảy cùng em một bài blues. Em nhảy tuyệt, nhưng em sao it nói thế?
Tôi trả lời bằng tiếng cười. Tiếng cười của tôi, theo như T3, thì khó mà biết tôi nghĩ gì và tôi sao lại cười? Có một đêm tôi còn nhớ rõ lắm. Đêm ấy hạt mưa nho nhỏ đủ làm ướt mặt đường. T4 lái xe, T1 ngồi ngoài, T3 ngồi giữa, cùng một băng đầu. Cả ba tên đi tìm tôi và T6. Khi đi qua rạp xi nê gần nhà tôi bây giờ, họ thoáng nhìn thấy tôi và T6 đang ngồi ở quán phở. Chẳng ngần ngại gì, họ vòng xe lại, đậu bên lề. Tôi chạy ra đón họ, còn T6 ngồi trong hiệu. Chưa bao giờ chúng tôi vui như vậy. Ngồi chung một bàn, chúng tôi nô đùa như sắp sửa coi hiệu ăn là nhà mình vậy. T4, người mảnh khảnh, khuôn mặt rắn rỏi, quắc thước; hẳn lúc xử án mà anh chàng nhăn mặt, nhiều tội nhân sợ khiếp đảm. Chỉ riêng với tôi thôi, anh chàng hơi thấp và lại rất vui; nói đúng hơn là dại gái, theo kiểu nhà tu xuất trở về đời. Chàng ta là một trong hai tên say mê tôi nhất vào thời gian đó. Sự chạy đua giữa T4T6; thì T6 trông thấy thua ra mặt. Tôi biết điều này, nếu trong một bọn đàn ông; hễ có thêm một người đàn bà mà một kẻ trong đó si mê người đàn bà kia là cả bọn bắt đầu nhảy vào vòng chiến. T1 phụ họa, nhưng phụ họa cho T4; song T3 đứng giữa không về phe T4, dầu thân. Với anh chàng này, tôi phục anh ta hơn hết thảy. Có lẽ chàng chưa mê tôi và chẳng có cái gì giống mọi kẻ trong bọn. Hoặc là hay hoặc là dở thì chưa biết. Có lần T4 kể chuyện lại, vì T3 không ưa đi chơi chung với chúng tôi, T4 nói sỗ sàng:
- Tôi vừa bảo T3 như thế này; nếu anh không cùng đi chơi với bọn này, anh sẽ không thành người được!
Nói xong T4 cười. Và quay sang phia tôi, như để dẫn giải:
- Thủy biết sao không? T4 tiếp, anh ấy tức quá mà chẳng làm gì được. Anh ta bèn dẫn tôi đi qua một con đường có cái cầu khỉ; từ Nguyễn Thông sang Trương Minh Giảng, qua nẻo trại di cư Bùi Phát. Còn ai ở đây mà không biết cái cầu ấy, dưới kia là rác rưởi, phân lềnh bềnh trôi, trên là hai cây tre chông chênh. Đi không khéo là được dẫn xuống cầu lịch sử đó. Rồi anh ấy chỉ xuống dòng nước vàng vàng kia, trả đũa tôi: nếu tôi không dẫn anh qua cầu này, làm sao mà anh thành người được, chứ chưa nói đến làm chánh án xử những việc mà chỉ sai tóc tơ là đầu người ta mất thăng bằng.
T4 cười ròn vang, sau câu nói kia. Rồi tôi kể lại cho T3 nghe về T4 đã nói như vậy, anh nhận là đúng. Anh chàng này đã có bản lĩnh, vì trước mặt tôi mà anh dám nhận với bạn một câu nói khá tàn nhẫn, cay đắng; mà không chối đi, để cho người đẹp thấy rằng mình có giá trị, không phải chỉ giá trị khi nhận điều nào tốt đẹp và chối bỏ cái không đẹp. Trở lại đêm gặp gỡ trước quán phở kia, chúng tôi đặt một nguyên tắc; chấp nhận những ai nói hay và phạt những ai nói chuyện vô duyên, nhạt nhẽo, chọc quê. Người nói hay thưởng một đồng. Thủ quỹ là tôi. T4 bị phạt, T1 ít hơn, T3 được thưởng. Giữa lúc ấy, T3 ngoắc hai người bạn quen đi qua đấy. Hai người ngồi vào chỗ, rồi giới thiệu lẫn nhau. Người dỏng cao, gầy, là họa sĩ Tuýt. Người nói giọng miền Nam, tóc dài là thi sĩ Tô Tô. Có mái tóc lòa xoà như tu dòng Hoà Hảo. Tôi rất ghét những tên đàn ông đa tình, lộ liễu; cứ trông thấy gái đẹp là mê cuống lên. Như anh chàng Tuýt chẳng hạn. Gặp tôi chàng ta mở lời ngay:
- Em đẹp lắm, hôm nào anh phải vẽ cho em Thủy một bức hoạ mới được.
Tôi đáp ngay:
- Vẽ như thế nào mới được chứ?
Rồi tôi cười, tiếng cười của tôi lúc ấy mang thật nhiều ý nghĩa. Mà tôi thấy T3 tủm tỉm, tôi biết ngay là anh đã nhận được nụ cười mang ý nghĩa nào rồi. Rồi anh cười toang lên như nắc nẻ theo sau. Làm cho Tuýt luống cuống. Tuýt lại đề nghị tiếp:
- Vẽ một bức họa chứ vẽ thế nào nữa. Em tưởng rằng được một họa sĩ cỡ anh đề nghị vẽ là một chuyện dễ sao?
T3 thấy có sự gay gắt ở phía Tuýt, họa sĩ bị chạm tự ái rồi. T3 tiếp:
- Ngôn ngữ của cậu chưa hợp với bọn này. Thôi để ngày khác lại chơi, rượt lại ít ngôn ngữ đã.
Tôi tiếp theo:
- Phạt một đồng nữa.
Đáng thương cho họa sĩ; chẳng hiểu đầu đuôi gì, chỉ còn cách há hốc miệng nhìn. Thi sĩ Tô Tô ra cái điều ta đây lắm.. Tôi ít đọc thơ văn anh ta, nhưng qua dáng điệu và xử sự, anh ta cũng cừ lắm. Bây giờ Tô Tô lên tiếng:
- Này T3, mày có quyển gì viết về ông Quỳnh[1] đó, tao muốn đọc mà kiếm không ra. Đi đến đâu cũng thấy anh em xì xào về cuốn đó. Cho tao xin một cuốn, được không?
T3 trả lời rằng cuốn kia đã hết. Tôi bèn ra cái điều bảo họ:
- Ở nhà Thủy có, hôm nào lại đây cho mượn.
Thi sĩ gật gù. Nhưng chàng ta có vẻ bực, chắc nghĩ rằng, một đứa con gái như tôi mà lại có sách của T3Tô Tô lại không có để đọc? Song thực ra, tôi nói là nói vậy thôi, cũng chỉ là ra cái điều, chứ tôi không có cuốn đó.
Tô Tô quay sang hỏi bạn:
- Về chứ Tuýt, hôm nào tôi tới thăm cô (quay sang phía tôi) và luôn thể mượn cô cuốn kia. Chúng mình hôm nay rượt màn kịch vui quá ta!
Tôi nói đùa ngay:
- Tại vì các anh đóng dở quá. Chưa ăn tiền được, còn bị phạt nhiều.
Hai bạn đi ra ngoài. Tự dưng tôi thương hại, ấy là tôi chưa phải dùng đến cái bùa, cứ mỗi lần nghe bạn kể truyện xong, mệt nhọc lắm, tưởng câu truyện của mình làm mọi người chú ý lắm, thì tôi đáp gọn lỏn hai tiếng: “thế à”. Tức thì, kẻ nói chuyện với tôi đâm ra luống cuống hết hứng kể. Chúng tôi còn nhiều ngôn từ lạ, trò chơi đặc biệt; ngay ở trong nhóm với nhau, chỉ cần đôi ba lần không đi chơi chung; sẽ cứ như là hội viên mới nhập hội vậy. Anh em nói chuyện; mình cứ ngẩn người ra, chẳng hiểu đầu đuôi ra sao cả.
Bỗng tôi trở về với công việc đang làm. Phòng trà khiêu vũ. Tiếng nhạc. Và tiếng người khách hỏi tôi:
- Sao em ít nói thế?
Tôi cười. Quá ngấy. Với thằng con nít này, lợi dụng ghê gớm. Trên da thịt tôi. Tôi cau mặt. Nhưng không hiểu sao lại chẳng cần phản ứng thêm. Nhảy với nó hai bài, tôi sang bàn khác đang chờ. Một bạn quen từ xưa. Thế là tôi bỏ thằng bé ngồi một mình. Nó lại ngoắc cai gà. Cũng khen cho con nít nhiều bạc. Chị N. bảo tôi:
- Thủy không biết sao, đó là văn sĩ H. nổi tiếng lắm..
Tôi bèn hỏi:
- Văn sĩ sao? Báo nào?
Chị N. bảo: “Điện Ảnh”. Tôi à một tiếng.
Khách mời tôi sang bàn trạc ngoài bốn mươi. Dáng người cao và nét sắc sảo của một người có học. Trắng trẻo ở màu da, loại người có tiền. Tư cách ở chỗ ít nói lạng quạng. Không lợi dụng da thịt. Kể ra là khá. Nhảy từng bài chọn lựa. Blues Slow. Tôi không nhớ rõ chàng lắm, quen ở đâu; bao giờ, thì xin chịu. Hẳn là chàng biết rõ về tôi, với tôi thì có quen sơ sơ. Nhưng tôi quên chàng nhiều hơn. Khi nhảy xong, chàng dìu tôi về chỗ ngồi. Bây giờ, chàng gợi chuyện:
- Tôi là bạn của anh ấy (T6). Cùng trong tù với nhau, thời chính phủ Diệm, các anh đứng dậy hô hào chống chế độ cũ rồi bị bắt. Tôi biết cả luật sư X (T1), thẩm phán L (T4) và anh bạn văn sĩ R (T3) và cả Thủy.
- Vâng, thưa anh, có lẽ vậy.
- Tôi biết tiếng Thủy từ khi Thủy còn mở cà phê Huyền ở Đà Lạt. Và gốc tích của Thủy là người miền Nam, nhưng nói giọng Bắc. Ngay với chính người sinh trưởng ở Hà Nội cũng khó mà phân biệt được. Bây giờ anh ấy (tức T6) ở đâu, Thủy?
- Nhà tôi đi Đà Lạt ít hôm anh ạ.
Một cái ngoắc tay, gọi bồi. Gọi chị N. cho khách. Qua câu chuyện nói với chị N. khách muốn mời tôi sang Moulin Rouge. Cho khách tính tiền luôn thể. Chị N. bảo với khách là tính sáu, nhưng với khách quen thì tính năm. Quay sang phía tôi; chàng xin lỗi trong ít phút để chàng đi tìm người bạn. Tôi gật đầu.
Trước đó, anh bồi đưa lại cho tôi một gói Salem. Thầm nghĩ, anh chàng này hào hoa lắm; tại sao chàng biết tôi hút Salem? Tôi ngồi vào ghế cuối phòng. Gác lửng, ở tận cuối. Chẳng muốn thò mặt ra. Tôi bảo chị N. rằng không tiếp ai nữa, vì hôm đầu đi làm mệt. Nhân dịp này; tôi muốn nhắc lại chính tôi, một vài chuyện gần nhất. Sống với T6. Một dịp may hiếm có và cũng là một tai họa hiếm có. Nhờ chàng bốn mươi vô danh bặt thiệp; tự nhiên chị N. thấy sự đi mời tôi làm lại là chị có con mắt tinh đời. Bây giờ tôi đã thấy mình thua sút xưa. Về sức khoẻ. Xưa kia, rong chơi suốt sáng không biết gì là mệt... (một đoạn dài nói về T3 và Thủy bị mất quãng...Nên thay vào đó, dùng những chấm liên hồi...).
Trước hết tôi quen T1 trong nhóm. Sở dĩ tôi chỉ kể ra đây có T3 vì chính những người ấy, với tôi là nhân vật chính. Ngoài ra, còn nhiều T nhỏ, như Tối văn Sáng, cựu trung úy tình báo; rất giỏi về điều tra tiểu sử đàn bà con gái Sàigòn. Rồi có lẽ chỉ vì vậy; mà bị sa thải trong nghề chăng? Nhiều khi muốn tỏ ra là tay ăn chơi; hắn biết cả những tiểu sử không biết về mọi người con gái đẹp đi qua quán La Pagode. Thêm một tên T. nhỏ nữa là Thùng. Cử nhân hai. Một lần T3 bảo Thùng (T nhỏ) rằng:
- Thời đại nào thì mày cũng chỉ là thằng môi giới con gái. Nhưng mày hơn đời là trí thức vì có kiến thức chứng chỉ cử nhân hai.
Sau khi quen với T nhỏ, Tối Văn Sáng rồi, tôi quen T4. Vì T4 tối ngày ở La Pagode với tôi, tán tụng T4 có nhiều tính nết giống tôi. Như T4 thích cảnh ngồi đây uống cà phê vào chiều; màu tím hoàng hôn buông thả thật thơ mộng trên cành lá ở vườn cây công viên. Ít lâu sau, gặp T2 rồi T5. Và cuối cùng là T3. Anh này rất ít khi đi chơi với anh em và không đứng về phe nào; anh cũng chẳng góp ý kiến gì, về sự tranh chấp tôi, giữa T4 T6. Song tôi chú ý đến sự yên lặng của anh. Tôi lấy T6, vì chàng có dáng của một đàn ông hơn T4. Và tôi phục T6 ở điểm dám chửi chính phủ Diệm thật bạo miệng. Tôi thú vì đó một phần. Còn về tiền, T4 có số lương thẩm phán chắc chắn. Nhưng tôi không ưa dáng người tủn mủn và lối nói chuyện của chàng; nếu cần phải lựa chọn một người chồng, có đủ yếu tố  giữ thăng bằng cho gia đình thì tôi chọn chàng. Song với tình yêu và hợp gỏt, tôi không thích cái vẻ lễ phép của T4 mà chọn T6. Nhưng nếu không có T6, chắc chắn là tôi lấy T4. Đàn ông độc thân là một điều thua thiệt. Một lần T tối mời tôi đi chơi, rồi nhân đó anh nói chuyện với tôi về T3 nhiếc T6:
- Mày đừng tưởng làm cách mạng theo kiểu mày là hay đâu? Thứ cách mạng ấy không có tao trong đó. Lúc nào cũng bô bô cái miệng. Tao cần dẫn giải câu ngạn ngữ này cho mày dễ hiểu. Con hoẵng không cắn chết ai, vì nó to miệng. Con rắn độc cắn chết người lại nằm lủi bên vệ đường rồi phun nọc vào mày; ít phút sau mày thấy hiệu nghiệm ngay.
Tôi hỏi T tối tại sao lại có vụ lộn xộn kia T tối đáp:
- Một buổi tối, tôi gặp T6 T3 ngồi uống cà phê. Một trong hai chúng nó ngồi gác chân lên thành ghế. Cái lối ngồi của T3 làm phiền mọi người và điệu bộ coi đời như cọng rác làm T6 nóng mặt. T6 bảo nó: “Tao không hiểu sao anh em thằng T2 và T5 chịu khó đọc sách của mày và hết lời tán tụng”.
T3 trả đũa: “Tao cũng cần nói thêm cho mày nghe, mày còn là thứ vô liêm sỉ, anh hùng vỏ bao Salem. Mày có cần hiểu rằng tao không ưa lối phê phán về tao theo kiểu mày không? Vì mày làm gì có tư cách mà mày phê phán tư cách tao. Khi mày không có một đồng; xin bè bạn được rồi, lại tiêu như con nhà trọc phú, thử hỏi mỗi đêm không có bao Salem tặng người mà mày có thể làm cách mạng được”.
Khi nghe T tối kể đến đây; tôi chợt hiểu rằng T6 yêu tôi chân tình và tha thiết. Chính điểm này khiến tôi cảm động, vì anh biết tôi thích hút Salem. Bao giờ anh cũng chờ tôi tới khuya; hồi ấy các vũ trường chỉ được dùng vũ nữ làm chiêu đãi viên thôi; luật lệ nghiêm ngặt, không được phép khiêu vũ; theo lệnh của bà Ngô Đình Nhu. Với T6, một kẻ không tiền bạc, không nghề nghiệp yêu mình, tôi thấy chân tình hơn hết. Nên tôi quyết định lấy T6 làm chồng. Hai chúng tôi vẫn sống với nhau trên căn gác thuê hiện tại. Anh chạy xoay sở tiền nong; có khi bí quá, bán cả chiếc Solex, cả đồ dùng, để có tiền chi tiêu trong gia đình. Nhưng từ ngày anh rể làm ăn thất bại, gia tài khánh tận, T6 bị rơi vào vực thẳm. Rồi hai ông bà thân sinh ra T6 tiếp nhau qua đời, T6 buồn và cô đơn hơn ai hết. Anh là người theo đạo Thiên Chúa; nhưng ít khi đi nhà thờ và tham gia phong trào chống chính phủ Diệm, tiếp tay cho Phật giáo. Như vậy tôi sung sướng rồi còn gì nữa! Còn tinh thần, cũng như sự lo lắng về đời sống vật chất cũng tàm tạm đầy đủ. Tôi sống cho tôi và tình yêu vừa hé rạng. Khi tôi mang thai con so; bây giờ là cháu trai, tôi một mình đơn lẻ. Anh ấy bị cầm tù. Tờ nhật báo xuất bản vào khoảng tháng tám năm đảo chính, đăng ảnh anh kèm những hoạt động. Sau chính biến hẳn đời sống của chúng tôi sẽ khá lên. Có thể một trong băng của anh ấy sẽ là Tổng, Bộ trưởng và khi ấy tôi đã đóng góp vào danh dự đường mây của anh ấy đạt được. Khi người ta có ý chí để theo, thì chấp nhận mọi khổ ải.
Vào những đêm nằm một mình trên ghế xích đu, từ trên cao sân thượng nhìn xuống, tôi hút Bát tô xanh; để giải nỗi buồn, vút lên không trung cao thẳm. Nhưng lòng tôi sung sướng, ít ra cái ngõ này đã nhìn tôi bằng con mắt khác xưa. Khi chồng tôi bị bắt ít lâu sau, báo chí đăng tải hình ảnh, bài vở; thì lúc ấy tôi thương và qúy anh; như từng chưa dành cho một người đàn ông nào biết tới được hưởng. Anh bị hành hạ, tôi càng yêu mến anh nhiều. Tôi hãnh diện có người chồng như vậy. T1 thì trốn chạy. T4 ở ngoài. Một lần T tối lại báo tin cho tôi biết T6 mời T3 tham gia phong trào nhưng chàng văn sĩ từ chối. Tôi khinh T3 ra mặt, người mà xưa kia tôi cho là khá. Chỉ khi nào nguy hiểm, người ta mới rõ lòng người. Cổ nhân không mấy sai lầm. Nhưng một hôm chàng văn sĩ tới nhà tôi. Qua câu chuyện, tôi biết anh không tham gia với băng của chồng tôi vì lẽ anh coi thường băng kia và không muốn thí thân vào nhóm họ. Nhưng anh ta vẫn bị chính phủ theo dõi.
Tôi có người bạn phụ trách về an ninh, một hôm anh kia hỏi thăm về T3, và cho biết anh ta đang bị ruồng bắt. Tôi định đi tìm T3, báo tin này cho anh hay nhưng không biết là anh ở đâu? Tôi cứ thấp thỏm lo cho anh, có thể là anh đã bị tóm rồi. Sau này gặp lại anh, tôi biết anh lánh ở Cao nguyên Đà Lạt.
Ngày đảo chính thành công, nhà tôi được trả tự do. T1T tối trốn ở nhà T4. T3 bảo anh em:
- Thằng T4 cũng không đến nỗi gì như tao tưởng, nghĩa là nó không hèn đâu. Vì nó còn dám chứa hai thằng bạn tranh đấu.
Từ khi chồng tôi ở tù ra; tôi thấy anh có phần thay đổi, ít nói bông lông và suy nghĩ chín chắn. Anh thú thật với tôi; ở giai đoạn về sau này, anh cũng chưa có thể làm gì cho gia đình khá được. Chúng tôi vẫn sống chật vật chẳng hơn xưa là bao. T1 cung cấp cho chúng tôi, nhưng chẳng là bao. Cho rằng bạn bè có giúp tiền, chỉ là qua cơn túng ngặt chứ không thể dùng nó vào hàng tháng được. Nhà tôi nói lại với tôi về câu T3 nói với anh, có lý:
- Tao mừng cho chúng mày, thằng T3 nó nói với anh vậy, không rục thân trong nhà đá. Sẽ vẫn chẳng có gì thay đổi đâu. Nhưng có lợi về kinh nghiệm cho mỗi bản thân. Khi thấy cần tranh đấu, dấn thân vào. Nhưng đừng mong rằng mọi việc có thể thay đổi dễ dàng chóng vánh. Muôn năm bất công vẫn còn đấy. Chỉ có một điều là thay đổi, đó là cái bất công sẽ biến dạng nhiều hình thức. Chẳng hạn thằng T nhỏ Cử nhân hai vẫn đóng tuồng tích cũ của nó. Thằng T tối vẫn lếu láo, nói dóc cả điều mà tự nó đặt ra như thuộc tiểu sử tất cả các cô gái Sài gòn lượn qua La Pagode. Có nhiều tiểu sử mà nó huyênh hoang biết ấy; chính biết cả điều không biết. Nhưng với T6 tao khuyên mày một điều. Sức khoẻ. Mày đã chạy được tiền nằm nhà thương chưa? Những trận đòn của chính phủ cũ có hiệu lực làm cho mày hao mòn trong nhiều tháng dưỡng sức.
Gia đình chúng tôi, từ sáu tháng nay vẫn eo óc. Hai đứa thôi, có thể nhịn được; sự kham khổ có gì là câu nệ. Nhưng con của chúng tôi, thì không thể không có tiền nuôi nó. Nó cần sữa, cần thuốc tây khi ốm và cần quần áo thay đổi hàng ngày. Những thứ đó phải có tiền. Mà chồng tôi vẫn chưa có việc làm xứng đáng với công lao xưa mà anh tham gia chống chính phủ Diệm. Nên tôi quyết định đi làm vũ nữ lại. Tôi biết điều này sẽ làm chồng tôi đau đớn, nếu anh có ý thức làm chồng. Còn gì khổ hơn; mỗi lần anh thấy có người đàn ông khác đưa đón tôi về, tiếng em, tôi buộc phải xưng hô với họ. Dầu là sau mặt chồng tôi. Nhưng con tôi cần tôi có tiền nuôi nấng. Tôi trình bày sự khó khăn muôn mặt đó với một con bạn đồng nghiệp. Từ đó mới có sự móc nối với chị N. Và chị N. đã buộc tôi phải đi làm.
Tôi nhìn đồng hồ tay. Sao lâu vậy, tôi đợi khách đã trả năm tích-kê bảo tôi đi nhảy nơi khác. Vẫn chưa thấy chàng trở lại. Tôi chưa gặp loại khách như vậy bao giờ. Hơi là lạ, có phải vậy không? Tôi nhớ lại rồi, chàng ta quen gần hết cả băng T. Chàng thuộc vào loại khách biết điệu và sành giữa lúc này. Chị N. đưa một đồng nghiệp của tôi vận comlê đen tới. Và nó khá xinh nhưng theo tôi hơi quê. Chị N. giới thiệu cô với tôi và tôi với Nguyệt. Tôi nói với Nguyệt:
- Tôi có nghe chị N. nói về Nguyệt nhiều.
Chị N. tiếp:
- Nguyệt nó vẫn nhắc đến Thủy luôn... Nguyệt kể rằng khách thường hỏi thăm về Thủy.
Nguyệt nói với tôi:
- Hèn nào mà khách sang không hỏi thăm chị. Chị cho em làm em chị, nghe chị Hai?
- Có gì đâu mà Nguyệt khen tôi. Chị em cả mà.
Nguyệt nhìn tôi từ đầu tới chân. Sau khi ngắm nghía chán rồi, Nguyệt kể chuyện về loại khách tới đây. Trong số đó có một văn sĩ, thường đi với khách ngồi bàn với tôi lúc nãy. Nguyệt không biết tên văn sĩ ấy!
Nhưng em bảo chàng ta kỳ lắm. Tôi đoán chàng là T3, nhưng T3 vốn ghét không khí trà đình tửu quán; sao anh có mặt ở đây được? Nguyệt tả lại cho tôi nghe vóc dáng chàng văn sĩ ấy. Đúng là T3. Và Nguyệt có cảm tình với con người ấy rồi đây, tôi nghĩ vậy.
Khách của tôi đợi đã trở lại. Chàng xin lỗi tôi, vì đi tìm bạn. Chàng ta ở quá xa, chàng lại không có nhà, nên trở lại trễ. Chàng mời tôi sang Moulin Rouge. Và nói nhỏ, đủ nghe:
- Tôi muốn dành cho em một ngạc nhiên. Tôi đi tìm văn sĩ R, nhưng chàng không có nhà.
Sau hai tiếng đồng hồ ngồi bàn với chàng, những giờ vui gần chấm dứt. Chàng đưa tôi về nhà. Tôi không từ chối. Vì đợi tắc xi rất lâu và lại không an toàn. Ít ra là như thế. Khi gần tới ngõ nhà tôi, chàng hỏi:
- Ngõ vào nhà em có sâu lắm không?
Tôi tinh ý hiểu ngay là chàng muốn biết nhà riêng của tôi. Tôi gật đầu và chàng dìu tôi đi. Trước khi giã từ, chàng đưa tôi một gói giấy, tôi đoán chắc là thuốc lá Salem. Rồi chàng nói câu giã từ:
- Tôi rất phục em. Vì hạnh phúc mà em hy sinh rất nhiều. Như xưa, em thường hút Salem mà bây giờ đổi sang Bát tô xanh. Người cho biết điều này, chính là văn sĩ R.. Mà lúc nãy, để em ngồi chờ lâu, cũng chỉ vì tôi đi tìm R.
Tôi cảm ơn chàng. Và đi lên gác. Chồng tôi nằm ở đó. Anh không nói với tôi một câu nào. Tôi không đòi hỏi vì tôi biết lý do rồi. Người khách đưa tôi chắc ra tới ngoài lộ. Chồng tôi nhìn sang phía tôi. Và nhìn thấy trên tay tôi gói thuốc Salem. Anh hướng về bao thuốc đó. Từ lâu không có. Tôi đi lại võng nựng đứa con, dù nó đang ngủ. Chồng tôi trở dậy, tay cầm bao thuốc định xé. Tôi xua tay và bảo:
- Để con ngủ. Anh hãy cho Thủy nói câu này, Thủy không muốn anh hút điếu nào của bao thuốc đó. Vì gỏt của anh là Lucky. Thủy đã mua cho anh đây này.
Tôi mở ví lấy bao Lucky. Chồng tôi im lặng cầm, không lời cám ơn tế nhị. Anh bóc ra ngay, châm một điếu; lên giường nằm lại. Tôi vào nhà trong thay quần áo ngủ. Chúng tôi nhìn nhau như không cùng một hướng. Tôi vào giường nằm. Chồng tôi nằm trong, tôi nằm ngoài. Hai đứa xây lưng lại nhau. Tôi đang nghĩ đến màu xanh của Salem trên bàn ngủ, dưới ánh đèn ngủ lờ mờ. Cũng màu xanh, cũng vẫn Salem. Nhưng bao Salem hôm nay không phải là bao Salem của đêm nào, chồng tôi đưa lại. Có thể bao Salem này tiễn đưa hạnh phúc của chúng tôi?
Tôi ngủ thiếp đi và mong rằng chồng tôi không hiểu như vậy!


m ộ t

C
hàng khách hào hoa của tôi ngoài bốn mươi, tóc hoa râm, tướng tá con nhà giàu, lịch lãm, có tiền, có lái xe riêng đưa chàng đến vũ trường nhảy nhót, ăn chơi. Chàng biết xài đồng tiền, nói như ngạn ngữ phương Tây, đồng tiền chàng kiếm ra chỉ là một đầy tớ được chủ xử dụng; không phải là tên thầy xấu. Nhớ lại lúc chàng tiễn tôi ngoài cửa, chàng nói rất nhỏ:
- Ngày mai tụi này đi Đà Lạt. Thủy có thể cùng đi thì hay quá! Người xưa gặp cảnh cũ bao giờ cũng tuyệt vời!
Chính câu nói bỏ lửng sau cùng này đánh thức dĩ vãng tôi, vào thời gian mở quán cà phê Huyền ở đó. Tay Thị trưởng thấy khách nườm nượp đến đây, nhiều nhất là sinh viên, quân đội, ông thấy ngại nên ra lệnh đóng cửa.
Cũng phải thôi, không trách ông được, có buổi trưa, tôi nói thật – không xấu hổ – tiếp mười tám thanh niên trong vòng mấy tiếng đồng hồ chung chăn gối. Thân thể rã rời, mệt lơ lửng; nhất là khi tiếp người mình có chút tình cảm. Một số sĩ quan quân đội cô vơ cho quán rất khó chịu khi nghe tôi dự định về Sài Gòn. Một chàng có cảm tình với tôi bậc nhất gằn giọng:
- Anh sẽ lên gặp hắn, bảo hủy lệnh này. Nó là bạn cùng khoá với anh xưa đó.
- Không được đâu, bạn là bạn. Nhưng lệnh đã ra khó rút. Thế anh không nghe em kể, khi ông mời lên gặp, ông tâm tình như tình anh em. Mấy ông lớn Sài Gòn ra lệnh thì chịu!
Thời kỳ Tổng Thống Diệm ra lệnh, không được ngắt một cành hoa anh đào, một nhánh thông rời khỏi Đà Lạt. Bắt gặp trên đường bộ, khách mang theo bị phạt tiền và tài xế xe liên đới chịu trách nhiệm: từ hai đến ba, bốn tiếng, xe bị giam tại chỗ. Nhà xe sống bằng nghề xe, chạy càng nhanh, càng quay tua nhiều hơn. Có xe trong hãng Minh Trung, chạy Saigon – ĐàLạt chỉ bốn tiếng mười lăm phút. So sánh một người mua vé máy bay, ra trạm ở Phạm Ngũ Lão lên Tân Sơn Nhất, chờ chuyến, lên máy bay, sau đến Liên Khương. Rồi ở Liên Khương chờ xe ca đưa về Đà Lạt trên dưới ba chục cây số đường bộ, người đi xe Minh Trung đã tới từ lâu. Như vậy, lệnh Sài Gòn đã ra, Thị trưởng Trung Tá chỉ còn nước van vỉ chủ quán Huyền trả nhà, ôm va li về Sài Gòn thôi.
Cảnh sát ở đây cũng biết rõ quá đi. Thanh niên ra vào nườm nượp, luân phiên lên lầu, tôi lấy điếu thuốc châm, hít một hơi là đá phóc một anh ra ngoài lâm trận làm tình. Tôi không thể ngờ mình dai phông như vậy. Bây giờ, chàng khách của tôi mời lên Đà Lạt, làm sao chối từ. Mặc dầu tôi và T6 sống chung như vợ chồng mà thật ra là non vợ chồng, già nhân ngãi. Chúng tôi đã có một cháu nhỏ ngoài ba tháng. Thực tế đời dạy cho tôi không được coi thường, khi con khóc, đói; cần có sữa pha, con đau, cần có thuốc, quần áo, tã lót ... Tất cả những thứ này cần phải có tiền. Nên tôi nhận lời cai gà, chị N., đi làm là vậy. Đi chơi xa với khách quen, không thể giữ được, hiển nhiên thế. Nhưng tôi cũng cần thay đổi không khí, và sự đó có xảy ra; cũng chẳng là cái gì, bởi tôi chưa là vợ chính thức của T6 kia mà! Tôi tặc lưỡi, gọi cho phía bên kia, nghe được:
- Em đồng ý. Cho xe đến đón em. T3 có cùng đi với anh không?
Một chút ngần ngừ nơi điện thoại. Rồi chàng đáp:
•- Anh chưa cùng đi. Lên sau một ngày. Cho xe đến đón em và T3 cùng đi. Tui anh lên Đà Lạt còn công việc khác, rồi em sẽ biết.
Chiếc xe hơi từ từ lăn vào khúc quẹo cầu Định An, chỉ còn cách Đà Lạt mười bốn cây số. Bên trái Núi Voi sừng sững, bao nhiêu năm trải qua biến đổi, thời gian vẫn như nhìn xuống phía dưới đầy thay đổi biến thiên. Chiếc cầu này, vào khoảng năm 1942, chứng kiến anh tài xế Phủ Toàn Quyền chở Phu Nhân lên Đà Lạt gặp Hoàng Hậu Nam Phương. Như dự định, hoà giải mâu thuẫn gia đình với Hoàng Đế Bảo Đại. Ông vua không ngai, mặc dầu trị vì nước, nhưng đám quan thầy Tây đứng phiá sau chỉ tay năm ngón, đi vào Kinh giữa ban ngày còn dám ghẹo nguyệt giữa thanh thiên, ngả bàn đèn phụ nữ trên sập như kèm theo ẩn dụ, Ta sang đây với tư cách là Khâm Sứ Quan Đại Pháp làm cho giòng giống chúng mày lai căng hết. Khí huyết tao mạnh như khí huyết dân da đen chung chạ với phụ nữ da trắng, sẽ có đứa con lai tóc quăn, da bóng nhẫy màu đen. Thanh niên trai tráng, lính Phù Tang, cưới vợ Đại Hàn làm lai giống giòng dân tộc này. Tôi nghĩ thật đúng, từ lối cúi đầu chào theo kiểu Nhật; dân Đại Hàn cũng hùng hục làm tình, xong rồi chân trái đá sang phía nam, chân phải phía tây; xốc quần lếch thếch bước ra cửa vội vã, còn quay gập người lại một trăm tám mươi độ chào người đàn bà Việt Nam vừa cho anh ta được hạ hỏa.
Chính khúc cua cầu này, xe lật, bà Toàn Quyền Decoux qua đời ở đây, không kịp trối trăn, chẳng kịp gặp Nam Phương Hoàng Hậu triều Nam; nhưng rồi chuyện tình của ông vua ba lăng nhăng tình ái này vẫn kéo dài cho đến bây giờ, có chết chóc ai đâu?
Tôi vừa châm điếu thuốc lá, T3 văn sĩ hỏi ngay:
•- Bà nghĩ gì như là nhớ nhung ai đó, có kỷ niệm sâu sắc gì với khung cảnh này?
•- Đúng. Nhớ phu nhân Toàn Quyền chưa kịp lên Đà Lạt đã gửi phút giã từ ở đây.
•- Vậy tối nay bà có thích ăn cơm Tây, do bếp quan Toàn Quyền Decoux nấu không? Tôi không phịa đâu, ngon nhất là món bí-tết Chateaubriand, khoai tây chiên tuyệt vời. Bà ăn, sẽ thấy được điều này nhé. Cũng vẫn là thịt bò phi-lê, cũng khoai, cũng mỡ, nhưng tay chiên của người này có khác người kia. Đó cũng là cái tài thiên phú, có phải vậy không?
Trời Đà Lạt se lạnh. Một làn gió lạnh như lùa qua làm mát lạnh mặt mày. Một thứ gió khác, như báo cho biết không khí trong lành ở đây bắt đầu. Thủy ngả người ra phía sau. Bây giờ T3 mới nhìn rõ cặp môi dầy, như tướng tinh dạy; đam mê nhiệt tình, nếu hôn không đủ độ, Thủy sẽ vít cổ xuống buộc hôn cho đã điếu. T3 nhớ lại lần Thủy kể tiếp khách một hơi gần hai chục mạng. Nghe như huyền thoại, nhưng thực ra vô cùng thực dụng đối với bản năng sức vóc Thuỷ. Người gốc Nam, nói giọng Hà Nội tuyệt nhiên nếu không muốn là hơn cả người Hà Nội cơm trắng, nước trong, thanh lịch Tràng An. Thằng nào lúc chưa, cũng hùng hục; vội cởi quần áo, lao như thú vồ mồi. Mồ hôi nhễ nhại, một, hai phút quay lơ; lấy ngón tay chọc vào hông, đuổi xuống. Thằng khác tiếp theo, cũng không hơn, hùng hục, rồi anh cuốc, em cào, anh nhoai, em ruỗi, rồi lục cục lào cào, cuối cùng anh mệt nhoài; lại ngoắc tay, tiếp thằng khác. Ba, bốn, năm, sáu, bảy, tám, khoan ... cho châm điếu thuốc. Hít một hơi, thằng khác tiếp; mấy rồi, bẩy, tám, ..., mười hai, -ba, -bốn, ..., đếm chậm lại, còn bốn thằng nữa. Dứt. Tiếp tục. Thằng mười tám, phán: Xong, bây giờ nghỉ. Không ai nữa. Giờ này thằng nhóc ba tháng mới cục cựa, chắc là đói, đòi bú. Thủy đem theo con, như có ý muốn bước một bước mới khác đường đời cũ.
Chàng bốn mươi nhà buôn khá giầu có, có vợ con, con gái dăm ba đứa. Đứa lớn đi với Thủy như hai chị em. Đào, xinh nhất, người cao cao, đôi môi mọng, khuôn mặt trái xoan bắt mắt đàn ông, giọng ngọt ngào đầy duyên thầm, như chàng bốn mươi cho biết sửa sọan tuyển một anh Mẽo làm con rể, hải quân đại uý. Chàng bốn mươi là con rể độc nhất của đại kịch sĩ kiêm giám đốc nhà xuất bản Tân Dân lớn bậc nhất Hà Nội. Ông có cô con gái rượu duy nhất lọt vào tầm mắt chàng bốn mươi họ Đinh. Đinh cũng là một kịch tác gia như bố, bé hơn; nhưng anh em gọi là nhà văn. Anh làm thơ, anh viết kịch, anh viết văn; gặp nhau giới thiệu chung chung: nhà văn là bảnh nhất. Gọi là nhà thơ, nhà viết kịch, đối với người đời, như là người có nghề mà không có nghề, nó chẳng có ấn tượng gì đối với người được giới thiệu. Nhà văn họ Đinh tiêu tiền như rác, điều này Thủy biết rồi! Những trận rửa tiền ở Tự Do, Moulin Rouge, Olympia... Rồi chàng vút trên chiếc xe hơi Mỹ đen loáng, rộng và lớn mênh mông. Thủy tự bảo mình cứ lấy anh chàng này làm chồng đã chết chóc ai; có phải hát bài Chiều trên bến Tam Giang đâu mà sợ([2]). Con cái anh ấy lớn hết rồi, đứa có chồng, con trai còn nhỏ, mà Thủy yêu anh ấy hơn là với T6 bây giờ. Thêm vào, có được sự chu cấp từ nơi Đinh, con chung sẽ lớn lên bằng sữa, bằng cơm gạo, không bấp bênh như hiện tại. Thủy làm vũ nữ, nghề này có hay hớm gì đâu, kiếm được tiền cũng là đồng tiền xiết máu.
Đứa con bú ngon lành trên xe, nét mặt ngây thơ không lo lắng gì, như nó biết có sự che chở lớn lao của mẹ, nó không sợ hãi gì.
Xe bắt đầu vào bến. T3 gọi chiếc tắc xi Peugeot, mở cửa mời Thủy bế con ngồi băng sau. Anh lên băng trước chỉ đường cho tài xế bon chạy về khách sạn Au Sans Souci...lẩn trong rừng thông mờ sương.
Khách sạn Au Sans Souci, ở mặt tiền đường Nguyễn Trường Tộ là cơ sở chính, nơi tiếp nhận khách là văn phòng. Biệt thự nằm trong rừng thông, nhìn lên đường Trần Hưng Đạo lẩn trong rừng thông, có sáu phòng. Hai phòng lớn, T3 ở một phòng cùng với Thức và Phong, hai bạn trẻ, người của Đinh, trong việc lên Đà Lạt để đào mỏ vàng ở Phi Nôm. Thủy và cháu nhỏ ở một phòng lớn đối diện.
Chẳng là, Đinh mua được bản đồ của một nhà báo có tên Phan Chu Tế. Gốc Đà Nẵng, ra Bắc làm báo trước năm 54, cùng trong toà soạn nhật báo Thân Dân với T3 thưở mới vào nghề của văn sĩ này. Theo như kể lại, Đảng Hắc Long của Nhật vơ vét vàng ở Đông Nam Á hồi thế chiến thứ hai, đem giấu ở nhiều nơi. Một trong những mỏ vàng lớn nhất ở Krong Pha, trước đây, Nhật đã ký thỏa ước với gia đình họ Ngô, thành lập Nhà Máy Điện Đa Nhim, gọi là bồi thường chiến tranh cho Việt Nam. Bà Ngô Đình Nhu, người được giao quyền làm ăn với Nhật, kinh tài cho họ Ngô, người từng có thời gian đem thân lụa là trải thảm cho Thụy Hoàng, lót đường cho anh chồng được đưa về làm Thủ tướng. Bà thuộc Đà Lạt như người bản địa, bà từng nằm trên lá thông khô xào xạc giữa ban ngày để cùng ai ghẹo nguyệt, vấy khí lên thân. Bây giờ tuy không sung sức như hồi ấy, bà vẫn còn quyến rũ, sức hút đam mê đàn ông, như giọt mật vàng óng ánh chôn chân bọn đàn ông ham muốn nơi bà. Bà xây một biệt thự thật tráng lệ nguy nga, bể tắm phun đầy sữa, để tấm thân ngọc ngà nhầy nhụa vẫy vùng. Thủy nghĩ đến đây, quay lại chỉ vào đoạn thơ có hàng chữ:
... tôi muốn theo người tình
       không bao giờ cần cưới
              để hưởng đêm tình ái Đà Lạt
                        vô cùng ấm lạnh
                                    mà quên đi quên hết
...([3])
- Bà Nhu thật đẹp, quyến rũ ông ạ, Thủy quay lại hỏi T3 đang cầm chiếc nĩa cắm miếng khoai tây đưa lên miệng. Ông đưa tôi đến 26 Hoàng Diệu này ăn bí-tết, quán Ba Cao, chủ là bếp tài ba của quan Toàn Quyền, có thật vậy không? Cái kiosque bát giác này của ông chủ cũng rất lạ lẫm, khác với bất cứ kiến trúc nào? Tôi cũng muốn được làm bà Nhu một đêm nhầy nhụa đấy ông ạ.
T3 vừa cười vừa dẫn giải:
- Bà làm tôi nhớ đến một câu chuyện được viết thành tiểu thuyết, một nữ văn sĩ tiền chiến, cũng có đời sống tình ái có thể là khá nhầy nhụa. Nên từ đó, bà viết cuốn Một Linh Hồn, tả gia đình của ông bà Trần Văn Chương, bố mẹ Trần Lệ Xuân đấy. Vậy thì bà Cố Vấn Ngô Đình Nhu này là người ăn rất ít cơm, nhưng phung phí nhiều sức vóc nhụa nhầy của giọt sương nhầy nhụa.
- Ông nói tôi chả hiểu gì cả.
- Dễ thôi. Ba bát cơm mới được một giọt máu, ba giọt máu được một giọt đám mây trôi. Một đêm ân ái ở Đà Lạt này, bà ấy ăn ít cơm – nhưng đổ nhiều giọt sương nhầy nhụa!
- Ông đúng là thằng phải gió!
Vào Tulipe chán lại sang Night Club. Thủy khiêu vũ với Đinh. Thủy chẳng nghĩ gì tới con vào lúc này. Đã có người vú, Đinh thuê coi sóc ở khách sạn. Nửa đêm, có tiếng quen quen gọi từ ngoài:
- Anh đây.
Nhà văn mang tên Đinh rất hào hoa. Người to lớn, trông cứ như có giọt máu lai giống như Hoàng Đế Việt Nam cuối cùng triều Nguyễn. Chẳng lẽ Thủy lại hỏi, thế này hơi bất nhã. Anh tự lai giống hay bà cụ anh đẻ ra anh đã bị thằng Tây ghẹo nguyệt giữa ban ngày? Nên bây giờ anh đẹp trai, khoẻ mạnh, đàn bà như em hăm mấy ngoài ôm cứng lấy anh, thật sướng. Lại giữa đêm khuya Đà Lạt như giấc này. Anh cởi áo ra, không cần tắm làm gì, vẽ chuyện. Để em thử sức với anh. Thằng yêu dấu chung chăn với em cách đây mấy bữa, bệu quá. Nó là chồng em thật; nhưng chỉ quết nhựa, kiểu mưa không ướt đất, mà cũng có thằng nhóc thật kháu ba tháng tuổi đấy. Kinh nghiệm các cụ dạy, làm tình với người khác phái; nam yếu, sanh trai; nữ yếu sinh gái: Chắc em yêu anh lần này sanh gái hay trai?
- Để anh đi tắm đã, em. Anh nóng hơn em nhiều. Những lần ôm em vào lòng khiêu vũ, anh vẫn phải lấy tay giữ nó lại. Sau đó giả vờ gãi gãi như có muỗi đốt ở vũ trường. Nhiều lần ôm em vào lòng, chưa một lần hạ hỏa; nó canh cánh thế nào ấy, tưng tức ở bụng dưới. Đành vào nằm cạnh vợ cái, lại không chào cờ được. Thật lạ, Thủy ạ!
- Em cởi khuy áo cho anh đây. Và anh đừng hôn em chứ. Trước sau gì, ở đây, không thích; em vẫn cho anh cơ mà. Nói thực ra, em cần anh hơn anh cần em. Bấy lâu nay, chưa lần nào em được cùng tuôn chảy một lần ân ái với chồng.
Thủy nhớ lại ngày xưa, mười tám, đôi mươi, ôm gần hai chục mạng chỉ có một đứa làm Thủy sướng; một lần tuôn chảy mà thôi. Thủy mong cái đinh ấy cứng cáp để nàng được cậy nhờ.
Nước chảy trong phòng tắm làm nàng nôn nóng. Nàng cởi váy ngủ, phủ chăn lên thân người, mắt nhìn lên trần nhà. Một cảm giác thích thú của dục vọng len lỏi qua máu Thủy. Chẳng lẽ mình bắt đầu yêu chàng thực? Không? Có? Nhưng điều này khiến nàng hưng phấn, nằm bên cạnh chàng lần đầu, sau rất nhiều đêm ở vũ trường ôm sát vòng lưng. Lâu nay, hôn không còn làm cảm giác thích thú như ban đầu. Lưỡi này đánh đáo lưỡi kia chẳng tạo một cảm giác nào, ngoài lợm giọng nước miếng. Nhớ lần đầu tiên, nàng bị mất cái qúy nhất, tên hiếp dâm lực lưỡng, có cái nhìn như xoáy chém da thịt, bàn tay nhám của lưỡi con mèo lướt qua da. Hắn ta lột hết quần áo nàng, nhét vào miệng khăn tay và bắt đầu mưa hôn. Chẳng kêu cứu ai được trong căn phòng trên gác ba; chính nàng cũng muốn biết cảm giác này lần đầu nó như thế nào? Hắn ta từ từ cởi từng khuy áo, đặt tay lên nương long xoay tít, nhay nhay nhè nhẹ. Như con nàng đòi bú, lưỡi đưa ra xoáy quanh bồng đảo, khiến nàng rùng mình. Cứ từ từ như thế, xoay sang nương long còn lại, nàng đê mê nhắm mắt thích thú. Rồi từ từ đi xuống phần bụng dưới, thắt lưng bắt đầu tuột mối buộc; hai tay hắn kéo từ từ ra khỏi đôi chân thon dài, rồi từ đấy lưỡi hắn nhám nhô lướt qua cặp đùi ếch đang tơ. Nàng thích thú và giật bắn người, đưa hai tay ôm lấy hắn, người co quắp, chờ đợi... Bây giờ, nghĩ lại không thể bảo hắn hiếp mình được, chính nàng cũng hiến dâng cho kẻ chinh phục xứng đáng là đàn ông biết làm đàn bà, con gái sướng. Chẳng bù cho T6, vừa hùng hục cởi quần áo đã nhảy phóc lên; tìm môi trường hít đất, đôi cánh tay không thể đỡ nổi thân còm, nhịp nhàng lên, xuống, rồi... xuội lơ. Sau, ngủ, ngáy o o, nước dãi chảy ra từ khe miệng, trông tởm. Ngủ dậy, T6 hỏi vợ:
- Em thấy sướng không?
Cái gật đầu thay thế lời nói. Rõ là giả dối, nhưng cũng đành. Chỉ quết một khí huyết, nửa giọt sương hoa, cũng đủ tạo hình hài con trai âu yếm của chúng ta. Có phải không người chồng yêu dấu làm em sướng? Tôi nói dối còn thực hơn thực; nên chồng tôi chớp đôi mắt trên khuôn mặt đàn ông, có râu quai nón hãnh diện vô cùng!
Bản nhạc dứt. Đèn bật sáng. Đinh dìu nàng về chỗ ngồi. Lúc này trên bục lại có lời giới thiệu ca sĩ mới, Khánh Ly. Tên ca sĩ hoàn toàn mới, giọng ca có bản sắc, nhưng mới vào nghề, non trẻ đáng yêu. Thấp thoáng gần đấy, có anh cảnh sát mặc cảnh phục Cảnh sát Dã chiến, mắt láo liên như bảo vệ hình hài ca sĩ trẻ. Đinh nói chuyện với T3:
- Ông không nhẩy sao?
- Không, tốt nhất là tôi nhìn người ta nhẩy. Người ta nhẩy với nhau đẹp hơn tôi nhẩy. Và họ âu yếm với nhau hơn tôi âu yếm.
Tôi cười, nhớ tới Nguyệt, bạn đồng nghiệp của tôi ở Tự Do, có lần hỏi dò về T3. Ông văn sĩ này lẩm cẩm lắm chị ạ. Em nói, chị đừng cười. Có lần ông ta đưa em về nhà, rạp Quốc Thanh. Ông ta đi bên cạnh em, cứ nép về một phía, như sợ chạm vào thân hình em. Em lại càng trêu tợn, đi sát vào, ông ta né. Ông này có vẻ khiếp sợ phụ nữ, nên em càng trêu chọc. Khi gần đến phòng em, em mở cửa mời ông vào chơi. Em thuê ở đây với chị em, bữa nay chị em về Vĩnh Long, em ở nhà một mình. Ông ta nhìn đồng hồ, nói là quá khuya rồi. Ông quay gót chúc em ngủ ngon. Chị biết hôn, ông ta bỏ lỡ dịp may...
- Này T3 ơi, Nguyệt Tự Do, ông nhớ chứ? Cô em khá xinh, tuy hơi quê một chút. Ông định cắm sào, đưa đón nàng đi làm, tôi tình nguyện mối mang. Con bé này làm vợ là số dzách đấy!
Đinh chêm lời:
- Ông sợ nghèo phải không? Kỳ này chúng ta trúng mỏ vàng ở Phi Nôm, tôi chia cho triệu phú cưới vợ nhé.
- Chưa đỗ ông Nghè, đe hàng tổng rồi! Thức nói với tôi, bây giờ đào chưa thấy gì còn anh em. Khi đào thấy vàng, có thể anh em giết nhau vì vàng đấy!
Hàng ngày, chỉ có Thủy ở nhà với cậu nhỏ, chúng tôi ra đi từ sáng sớm xuống Phi Nôm. Có lần T3 gặp Phạm Công Thiện, giáo sư Anh văn dạy cho lớp tư con cháu công chức Vĩnh Tường kiếm cơm. 16 tuổi, chàng này đã cho xuất bản Anh ngữ tinh âm khiến học giả Nguyễn Hiến Lê lắc đầu, tấm tắc khen. T3 nhớ lại chiều thứ bảy, anh và Thiện đi xe Minh Chánh về Mỹ Tho, nhà bố mẹ Thiện mở cửa hàng bán xe đạp và phụ tùng xe gắn máy ở 41 Thủ Khoa Huân. Ở lại ngủ với bạn một hai đêm, sáng thứ hai cả hai lại trở về Sài Gòn, mỗi đứa theo nghiệp văn của mình mở rộng lãnh địa. T3 hơn Thiện chín tuổi, thằng tuổi rắn, thằng tuổi khỉ, bây giờ gặp nhau ở đây: Phi Nôm. Thằng đi đào vàng, thằng dạy to be or not  to be... Chán thật, nhưng vui! Buổi chiều, khoảng bốn giờ, chúng tôi thay quần áo, lên xe hơi về Đà Lạt, tắm rửa, thay quần áo đi ăn, tối khiêu vũ. Và Đinh còn nhẩy đầm theo hai nghĩa, không biết anh chàng này nhẩy đầm với Thủy hiệu quả tới mức nào? Hiệu lực hay không, rồi ra Thủy cũng tâm sự cho mình biết thôi. Một nụ cười ruồi chỉ cho một mình T3 hiểu ý nghĩ của chính mình.
Thủy nói với T3:
- Ông nhớ con C. không? Có một dạo nó sống với thằng văn sĩ mặt ngựa ấy. Thằng Thải Mai và con Cúc tưởng như ăn đời ở kiếp với nhau được. Ông lại sợ nếu, giả thiết nếu ông cặp với Nguyệt, cũng giống như Thải Mai ăn bám váy vợ chứ gì? Nhưng, như tôi nói với ông, ba bảy hai mươi mốt ngày, con Cúc phải bỏ nó. Bởi cái con Cúc cần, Thải Mai không có; cái có của Thải Mai, con Cúc không dùng vào việc gì được. Tôi mới thấy nó thấp thoáng với thằng trẻ cặp kè trên pít([4]) Tulipe.
- Này, bà có đọc cuốn Mười Đêm Ngà Ngọc không? Khiêu khích dục vọng, phấn hưng làm tình, đá lâu đá hay, đá đến người tình nữ phải kêu lên, rên lên như mời gọi: nữa đi anh! Nhưng đó là văn chương dồn nén, tả hay về cái điều mình không thực hiện được. Nhưng văn sĩ là hót hay nên đánh lừa được chính mình và người đọc.
Thủy tiếp lời:
- Tôi bảo nó, mày có thằng chồng sáng giá đấy. Cao ráo này, trí thức, có nụ cười rất say đắm, hớp hồn phái đẹp, ăn nói tài hoa, văn chương lừng lẫy, tiền của dồi dào, gia đình thuộc loại con ông cháu cha. Anh ruột từng làm Tỉnh trưởng...họ hàng với cả giáo sư triết lý Nguyễn Đăng Thục, mà thằng bạn dám xấc mé gọi là giáo sư triết lý C’est à dire... bởi ông nói tiếng Tây, ông thường lặp đi lặp lại câu này đến nhiều, rất nhiều lần ...Giáo sư triết lý bởi vì. Chồng mày viết văn hiện sinh, tả làm tình; tao đọc cũng sướng rên. Cũng phải cảm ơn chồng mày nhé. Tao đọc truyện của ổng, là bù đắp cho thằng chồng tao chưa lên đã xuống. Mày tốt phúc thật, Cúc ạ.
- Thủy ơi, mày lầm rồi, mày không ngủ trong chăn tao, làm sao biết chăn có rận. Nó viết hay thật, nhưng nó cũng như chồng mày, chưa lên đã xuống, tao chán quá! Nên cặp với thằng có vòi xài được việc, chứ không phải chỉ để đi đái thôi.
- Thằng bồ mới của mày bây giờ đã vừa sướng cho mày chưa Cúc?
- Thằng này thì dư sướng cho tao. Nhưng nó chẳng có đức([5]) bằng thằng chồng hờ của tao cũ.
- Được cái này, mất cái kia.
- Đúng vậy! Cúc đáp. Khi tao với nó lăn lóc trên giường, nó thấy tao rên hai chân quắp lấy nó. Thì, xong việc, tắm rửa, mặc quần áo đi ăn, nó vòi thêm tiền, Thủy ạ. Lắm khi tao bắt nó làm đúp cho bõ lúc thằng kia chưa lên đã xuôi...Tao có kinh nghiệm này chia xẻ với mày, Thuỷ. Mày đừng cặp bồ hay lấy bất cứ thằng viết văn nào. Đa số chúng nó cầm bút kia thì nhiều mực, văn hay chữ tốt – nhưng đến cái khoản viết bằng khí huyết, chán lắm! Nên ngay từ khi ấy, tao đã phải thuê thằng sơ cua, mỗi khi tao chưa thỏa mãn... Có một lần, nó thấy thằng kia đến làm tình với tao, nó ghen. Tao chửi thẳng, không có nó, tôi bỏ anh sớm hơn. Khi đêm khuya, lạnh như Đà Lạt, tao cần hơi ấm từ nó lăn lộn trên giường với tao, làm tao sướng, thì nó không đáp ứng được. Rõ dởm, ghen cái nỗi gì?
Cúc ôm lấy Thủy, dắt đi quanh quanh, tâm sự:
- Nói đi cũng phải nói lại, nó chịu khó kiếm đức cho tao xài. Tiền viện trợ của Mẽo cho làm báo từ cậu Lê Kim([6]) đưa, nó ngắt ra đưa tao trước. Hoặc khi chưa có viện trợ, nó theo học đánh bê phé với Hoàng Thư (mày biết ông này không, sáng giá nhất là Trấn thủ lưu đồn) rồi mướn phòng Hoàng Thư năm trăm một ngày đêm để đánh phé bê (đánh bịp đó Thủy) đem tiền về cho tao. Thương ghê cái mặt ngựa của thằng chồng cũ của tao.
- Thế bây giờ mày bỏ ổng hở Cúc?
- Chẳng bỏ cũng chẳng không. Khi tao cần sìn, tao lại ổng, tao ỏn ẻn, tao khen ổng viết Mười Đêm Ngà Ngọc hay hết xẩy. Không có tao, làm sao ổng đẻ ra văn chương mười đêm ngà ngọc được? Ông đưa tiền cho tao và lấy tay sờ soạng tùm lum, như bốc hốt ấy mà!
- Mày dã man lắm Cúc ạ.
- Mày thương làm gì bọn đàn ông. Chúng nó là lũ ngốc để mình xài, thằng nào pin mạnh cho tăng tốc; pin yếu, ném ra cửa sổ – làm bẩn bôi nhơ giang sơn bà.
Rồi chẳng hiểu sao, Thủy lại giở giọng mối mang với T3:
- Này, tôi hỏi thật ông nhé. Pin ông có mạnh không – mạnh, tôi giới thiệu ông với con Cúc. Được không?
- Bà thích tôi xài đồ đã dùng qua chắc?
- Đồ bản địa Nhật chế cho dân chúng họ xài bảo đảm hàng tốt, bền, không hư lung tung. Đàn ông như ông lắm lúc cũng cần chứ – cần mà vớ loạng quạng – có ngày dính chấu. Con Cúc này máy tốt, bền, ông thử xem?
- Sao bà lo lắng cho tôi quá vậy?
- Bởi tôi nhớ bữa ông đi mua hộp sữa cho con tôi, đúng vào lúc kiệt quệ tài chính. Hơn nữa, con Cúc gặp tôi đi với ông, nó hỏi thằng cha nào cao ráo đi với mày, trông cũng tạm được. Giới thiệu đi, Thủy.
- Cảm ơn bà. Hạ hồi phân giải. Sinh hoạt tình dục với tôi cũng như mọi người, đói ăn, khát uống – cần thì tìm nhau mà... Nhưng quan trọng hơn hết vẫn là đối tượng cần và đủ. Có xài lại đồ của thằng văn sĩ Thải Mai cũng chẳng hại gì. Cũ người mới ta, với Mai Thải – nó đã dùng hữu hiệu đâu mà coi là cũ...
Cả ba nghe đến đây cùng cười, ra khỏi vũ trường. Đinh đẩy một vũ nữ người thon, nhỏ thó, trông được, qua phía T3:
- Chúc bạn ta vui vẻ... Em này trông cũng không xấu, nhưng mặt xấu chấu tốt, bạn ta nhớ vậy.
Trời đêm Đà Lạt bữa nay, nói chuyện với nhau, miệng thở ra khói.

h a i

H
ôm nay ông khỏi phải xuống Phi Nôm. Để tụi tôi lo, cháu Đào mới đem máy khoan dò kim loại lên. Ông chú đưa cháu đi chơi thăm cảnh quan Đà Lạt nhé.
Đinh nói xong, nháy mắt, cười. Như không cần nói thêm, T3 đủ hiểu ý của Đinh giải thích. Từ lâu nay, Đinh có ý vun quén cho con gái mình thân thiết hơn với T3. Là con gái thứ hai của Đinh, dáng vóc Tây phương, học trường Đầm, còn sắc vóc đủ làm cho người khác phái rung động, một khi hợp nhãn. Nụ cười tuyệt vời, âm thanh vang lanh lảnh khó quên, vừa trầm ấm lại nũng nịu. T3 biết Đào có một hải quân đại úy Mỹ đeo đuổi; chiếc máy dò kim loại kia là của anh chàng cung cấp cho bố vợ tương lai tìm vàng trên đỉnh núi Phi Nôm. Từ Sài Gòn lên quốc lộ 20, cây số 22 cách Đà Lạt, rẽ vào vườn đi thẳng lên đồi, lưng chừng mới xây một lán của những kẻ đào vàng. Trong lúc anh em trò chuyện, cơm nước, hay quây quần bên ly cà phê, ai cũng cho mình là bạn đồng nghiệp hậu duệ của nhà báo lớn Nguyễn Văn Vĩnh. Ông Vĩnh sang Lào đào vàng, để trả nợ. Vàng chưa tìm thấy, nợ chưa trả xong, thân xác đã vùi lấp nơi đất Lào heo hút rừng già, nước độc. Văn chương chữ nghĩa, giỏi thượng thừa như người đương thời phong tặng: Cụ Quỳnh cụ Vĩnh, thế nhưng... Nhưng có thằng ni a ni b, đánh vần trắc, bằng chưa thông, dám gọi hai cụ bằng thằng đã chết ai đâu? Nhưng cụ Vĩnh đã chết vì vàng. Nói như đại kịch tác gia cổ điển Anh: Vàng óng ánh, mi đã giết người, đổi trắng thay đen, quả không sai! Giỏi như Phạm Quỳnh, chỉ tốt nghiệp diplôme, nhưng viết tiếng Pháp cừ không kém văn gia, học giả mẫu quốc. T3 vừa trình bày với anh em có cả Đinh tham dự, ngồi kề bên Thủy:
- Nói có sách, mách có chứng. Bài diễn văn chót của cụ Thượng Phạm Quỳnh nói về Quan Ba Đỗ Hữu Vị, một vị anh hùng Pháp Việt, đọc ở Sài Gòn, ngày 5 Novembre 1937, kèm theo bản dịch quốc văn của Nguyễn-Tiến-Lãng (tên nhà văn viết tiếng Pháp này ba chữ đều có gạch nối), cũng không thể không nói là tuyệt vời.
- Cho dẫn chứng kèm theo tuyệt vời, Thủy nói. Chứ tuyệt vời không thôi chưa đủ là tuyệt vời.
- Đúng, T3 đáp. Nói nôm na, văn chương nịnh cũng phải có đầu có cuối. Lại càng phải có sách có sử – mới không thuộc loại ngậm miệng ăn tiền, như bọn gia nô văn chương thời ông Ngô Đình Diệm. Phạm Quỳnh giới thiệu phi công Đỗ Hữu Vị thế này: ...Thưa các Ngài, có một câu văn của Maurice Barrès vẫn trở lại trong ký ức tôi một khi tôi nghĩ đến cuộc hội đàm đáng ghi nhớ, mà trong lúc đó ngài Đỗ Hữu Vị đối đáp với quan Toàn Quyền Van Valloenhoven, lại một vị anh hùng nữa, một vị anh hùng xứng đáng với những hiệp sĩ đời xưa, ngài Đỗ Hữu Vị lúc ấy đã nói một lời mà bây giờ sử sách ghi tạc: “Tôi vừa là người Pháp, vừa là người Nam, vậy tôi phải gánh vác gấp hai nghĩa vụ”. Ông Maurice Barrès nhân khi bàn luận về nhà thi sĩ José Maria de Hérédia đã nói rằng “Nước Pháp có cái tài là khéo dùng chất vàng của ngoại quốc đem tới mà tạc thành ảnh tượng Pháp...”([7])
Đào đột ngột bước vào, nghe chuyện, liền góp ý:
- Cháu biết rồi, cô giáo xưa có giảng câu văn của Maurice Barrès, bây giờ cháu có thể đọc nguyên văn: “La France excelle à frapper des médailles avec de l’or étranger...”
- Toàn nói chuyện dính líu với vàng và văn chương, Đinh kết luận. Bây giờ, mỗi người làm theo công việc của mình nhé.
Nói xong Đinh ra xe, cùng với Thức, Phong và chiếc máy khoan dò kim loại.
Đào và T3 dắt nhau ra phố.
- Ta lên cà phê Tùng. T3 rủ Đào.
Đào gật đầu, lùa tay khoác tay T3:
- Cháu cũng thấy thích không khí quán này. Nhất là trời lạnh, uống cà phê nóng và ngon, lại có chỗ ngồi thoải mái nghe nhạc thính phòng.
Hai người bước vào quán, chủ gật đầu chào. Đào hỏi:
- Chú quen ổng?
- Ừ.
Rồi Đào chỉ cho T3, bức tranh treo trên tường phía bên trái, nhìn từ cửa ngoài vào.
- Bức tranh của Vị Ý đấy!
- Chú quen ổng?
- Quen, chính chú chở bức tranh này từ Sài Gòn lên cho ông chủ Tùng. Năm ngoái hoa đào nở, Vị Ý triển lãm tranh ở nóc chợ Đà Lạt, hoa đào nở rộ.
- Sao triển lãm ở đây, tranh lại đem về Sài Gòn; rồi chú lại đưa lên?
- Bởi, ông hỏi mua muộn. Ông thích bức tranh Nghệ sĩ đánh đàn, chưa kịp mua; ông Vị Ý đã đóng cửa và đem tranh trở lại Sài Gòn. Nên chú lại mang lên. Bây giờ Nghệ sĩ đánh đàn có một chỗ dung thân.
- Chú nói như có vẻ mai mỉa, kể cả khoác cho bức tranh là tĩnh vật có linh hồn, biết trò chuyện về thân phận.
- Điều ấy cháu nói chứ không là chú. Như đôi giầy chú đang đi đây này. Nó giống như những đôi giầy khác đóng ở đất nước mình. Nhưng nó cũng có số phận. Đôi giầy của chú từ người bạn học cũ Trung học ở Hà Nội. Anh ta con nhà giầu, nhân dịp Việt Minh tấn công thu đông ở Nghĩa Lộ vào năm 1952, bố mẹ anh muốn cho yên ổn học hành, gửi con sang Pháp. Năm ngoái anh ta về gặp lại chú, tặng lại đôi giầy này, để nhớ nhau. Nên chú cứ lết nó như lết bạn theo, đến khi đế hỏng, lại đóng – cho đến bao giờ không đóng lại được nữa mới bỏ. Thế có phải nó có số phận không? Nó được thợ đóng giầy ở Paris bầy bán ở hiệu – một người Á châu sinh viên mua, đi vừa vặn. Rồi anh ta về thăm cha mẹ ở Việt Nam, anh ta gặp bạn cũ, tặng giầy nhớ nhau, rồi trở lại bên ấy với vợ. Cái khác là nó hiện có chủ, một anh chủ mới không khá giả và bây giờ nó đang trong chân của chú, để đưa một giai nhân thăm cảnh quan Đà Lạt.
- Chú cứ nói thế, nàng nhón tay nhéo chàng.
- Không đúng sao, như hôm nay chú cháu mình ngồi bên nhau ở Tùng, nghe nhạc uống cà phê, như là có một sự sắp đặt của Đấng nào đó. Lại được ngắm bức tranh của họa sĩ Vị Ý. Riêng ông này cũng là một phong cách ẩn ức dồn nén.
- Chú muốn nói đến Sigmund Freud trong tranh Vị Ý?
- Phải, không những tác phẩm thôi đâu. Cuộc đời riêng tư cũng thế.
- Chú kể cho cháu nghe.
Đào đóng cúc áo khoác manteau rồi dựa vào chú, mắt nhắm nghiền. Chẳng coi chốn này là đâu, cứ như trong nhà hay ở phòng khách sạn Au sans souci vậy.
- Chú cho cháu dựa, chú kể cháu nghe cho đã điếu.
Như một người kể chuyện cổ tích cho em bé thường ưa, T3 tỉ tê, giọng lúc trầm bổng, tùy theo sự sống một thời của họa sĩ gần như độc thân, chỉ biết tranh vẽ, chữ nghĩa, bạn bè, đôi khi một người được gọi là tình nhân thoáng qua.
T3 và Tâm (tên thật của Ý, lúc này Tâm chưa là họa sĩ, mới chỉ là một công chức tùng sự tại bộ Thông tin) quen nhau thật tình cờ. Như là có sắp đặt, lại của đấng Cao Sâu. Tâm là nhân viên của một Giám đốc một Nha sở thuộc Bộ Thông tin. Và T3 là tùy viên báo chí cho Tổng trưởng Bộ, là chiến hữu trong Việt Nam Phục Quốc Hội (Cao Đài). Dầu chỉ là chiến hữu cầm bút viết báo Thời Đại, cơ quan của Hội. Và lúc đó, Tổng Thái là chủ bút. Tâm tuy là công chức, nhưng vóc dáng, lối ăn nói, đi đứng cũng khác thường. Ngậm ống vố to tổ bố, ăn nói có ngôn ngữ riêng, tuy không ra cái điều mình là nghệ sĩ; nhưng anh được anh chị em phê bình “ông này nghệ sĩ tợn”! Rồi cho đến khi sang làm tạp chí Sống, chủ nhiệm Ngô Trọng Hiếu, sau này cũng là Bộ trưởng, anh có tranh in trên báo, lại trình bày. Ngoài ra, anh vẽ những bức tranh thật lớn, hoặc nhỏ; nhưng phụ nữ Việt Nam bao giờ cũng có bộ ngực đồ sộ như Marilyn Monroe. Anh được tạp chí Thế Giới Tự Do của Sở Thông tin Huê Kỳ, in tranh, phỏng vấn. Danh tiếng bắt đầu nổi. Trả lời rất thực. Chẳng học vẽ ai. Thích là vẽ. Ai bảo là siêu thực, tùy; ai bảo tranh tượng trưng, tùy; hiện thực mới, cũng tùy... miễn là tranh có nét độc đáo và có công chúng mua tranh sưu tập. Thế thôi! Anh còn làm thơ. Thơ anh đăng trên tạp chí Sống – bài Tôi... lê thê dài như đường Nam Bắc, được chặt khúc in dần. Sau khi chủ nhiệm lên làm Bộ trưởng, anh lại được đưa về 272 Hiền Vương, Sài Gòn 3 làm giám thị trông coi lớp huấn luyện cán bộ Công Dân Vụ. Anh và T3 hàng ngày gặp nhau, cùng ăn, nhất là cùng uống cà phê ở căng tin suốt ngày. Trong số khoá sinh lớp có một nữ thanh niên học giỏi, thủ khoa, chữ đẹp, làm thơ rất độc đáo ký Xuân Tâm. Anh Tâm rất thích cô bé này, bởi “trước hết hai ta cùng Tâm”. Đời thường cho rằng con gái có tên Tâm rất khổ về đường tình duyên – còn trai tên Tâm cũng lao đao về đường đời lẫn tình ái. Vậy không không là có, Tâm Tâm cũng là có, lại có một cách huy hoàng mới phải.
T3 và Ý thường hay đến nhà Tâm ở Ngã Tư Bình Hòa. Bố mất sớm, còn mẹ. Tâm có hiếu với mẹ, tìm việc làm đỡ đần gia đình. Cô em gái của Tâm cũng lại làm thơ, như chị; nhưng lao vào thơ bằng cách cho ra bằng được một tác phẩm thơ in trong nhà xuất bản Nhân Chứng của Phổ Đức. T3 và Tâm đến đây cũng gặp rất nhiều thanh niên cùng tuổi với Tâm, mê nàng. Chẳng biết tại sao các cụ xưa lại cho rằng mê gái cao độ là mê như điếu đổ. Chỉ hiểu được rằng nước điếu lâu ngày đổ vào đâu là sát trùng khiếp đảm. Ra trường Tâm thuê nhà ở riêng gần cổng xe lửa số 6. Căn nhà nhỏ có hai phòng, phòng ngủ phía trong, phòng khách ngoài. Tuy chưa chồng, nhưng là bà non rất chững chạc và có truyền thống quý phái. Chính vì mê chị, nên Vị Ý (bây giờ không còn gọi Tâm nữa) buộc Diễm Phúc, cô em gái làm thơ ngồi hàng giờ của nhiều buổi, để anh vẽ tranh phác họa chân dung màu đầu tiên. T3 phải nói bức tranh màu đầu tiên, vì Ý vẽ màu rất ít, đa số là màu đen, như Thon Nhỏ chẳng hạn hoặc Cô bán rượu in trên Thế Giới Tự Do. Lúc này Ý về ở Nguyễn Tiểu La, Sài Gòn 10, xóm Tàu. Nhà Ý một căn nhà lá nằm sâu heo hút, trong hẻm tối om, chỉ có tranh và tranh. Anh ăn, ngủ, vẽ, tiếp bạn bè cũng vẫn chỉ có một buồng duy nhất. Ý cũng thường lấy cớ mình có nhà, mời Tâm đến chơi, nhưng hình như chưa có lần nào Tâm tới. Lần ấy, họa sĩ rủ T3 đến nhà Tâm treo bức họa vẽ Diễm Phúc đã xong. Gặp Tâm ở nhà, lại trong phòng, Ý bảo T3:
- Ông còn thuốc lá không?
- Còn, ông cần?
- Không.
- Hỏi làm gì?
- Tôi muốn ông ra ngoài mua thuốc lá dự trữ... Ông để tôi ở đây một mình. Đi lâu càng tốt.
T3 tự cười thầm với mình. Anh chàng này nổi cơn tình ái, có dám làm ẩu không đây? Vừa ra khỏi cửa, nghe thấy tiếng Tâm kêu:
- Ôi, anh Tê Ba, anh vào đây em nhờ một chút.
T3 cứ như không nghe thấy. Tâm vùng chạy theo T3, lời nói hụt hẫng:
- Anh Ý đòi hôn em giữa ban ngày ban mặt.
- Thế cô không thích?
- Ở hoàn cảnh này chưa thích được.
Tâm lôi T3 vào nhà, ngồi phòng khách, nói lảng:
- Cảm ơn hai anh đem tranh tới cho chúng em. Bức tranh Diễm Phúc đẹp, nhưng còn thiếu môi hôn nồng nàn, nên anh Ý định hôn em trừ phải không?
T3 không ngờ Tâm nói không ngượng ngùng. Ý nói lảng:
- Anh yêu em Tâm ạ, có anh Tê Ba đây biết. Anh ấy xui anh cứ hôn đại em rồi từ đó tình yêu sẽ tới theo...
- Ngày đó cũng sẽ tới, nhưng chưa phải bây giờ...
Tâm nói một cách thật hồn nhiên, khiến Ý đỡ ngượng ngùng và cũng rất hy vọng về lời nói chẳng biết tương lai gần hay xa sẽ đưa tới sự thực.
Hai người uống trà xong, ra về. T3 nói với Ý:
- Ông liều hơn tôi nhiều.
- Chả dám.
- Thế trong trường thiên thơ Tôi của anh; rồi có đoạn nào tả nụ hôn hụt như bữa nay không?
- Không biết.
- Vậy tôi đọc cho ông nghe một đoạn thơ tôi viết về tác giả của Nụ Hôn hụt hẫng nhé.
“................
...Người họa sĩ già sống bốn mươi lăm vất vưởng
tên anh tô bất tử non sông tâm hồn Việt Nam
vợ con chưa có, nhà một gian xẻ làm hai
nửa ngoài vẽ tranh nửa phía sau làm ổ ngủ
tôi gặp anh gần mười năm máu lửa
hình hài buổi đầu ba mươi tuổi, tuổi hào hoa
mười năm sau đem mắt môi tâm hồn trải rộng ra
phên, vải, mực sơn hóa ra tàn tạ
đường vào nhà anh, Nguyễn Tiểu La, Chợ Lớn
nhà sơn màu đỏ quan tài, sức sống hiên ngang, dị biệt
anh thường đập bàn nhìn tôi không hề than van
bữa no đói dăm ba đồng bữa cơm nghệ sĩkhông hẹn anh nhưng chúng tôi cùng gặp gỡ
đỉnh đồi Đalat rừng thông như cây Giáng sinh ngút ngàn
mái tóc phong sương rừng lau thưa chắn gió
đôi mắt sắc sảo hiện trên hai lần gò má
hương thơm thuốc từ trong tẩu tỏa ra ngoài
anh mang lại cho sinh hoạt đời mầu mắt mát da
hoa hồng đào trên khung vải màu xám trộn pha
sự nghiệp dài thường trải mấp mô trên đá tảng
rêu xanh và lối dã thảo và buồn không thốt ra
tôi chỉ thấy anh cười thoang thoảng trầm hùng bi ca
xẻ tấm phản nằm vẽ sinh hoạt đời
không còn tiền mua khung vải
và màu sơn đỏ ứa lên nghẹn ngào như máu tứa
hãy nhìn lên cao trời sáng đến sao băng
rằng chúng ta không chỉ biết đời chát chúa vô ngần!
chúng tôi dắt tay nhau đi trên ngọn cây leo đồi thông...”
- Ông tả tôi đẹp, hào hoa quá đấy. Tôi xù xì, chỉ đáng so sánh với gốc thông già thôi.
- Nhưng ông có bằng lòng cho đôi nam nữ đến ngồi tâm sự dưới gốc thông đó không? Nhất là người nữ này thon nhỏ lại có bộ ngực ngồn ngộn như Núi Bà trên đỉnh Lâm Viên. (lấy tay chỉ về dãy núi xa xa ...)
- Thế thì ... hiểu Vị Ý([8]) đến chân tơ kẽ tóc rồi.
Đào nghe xong, thở dài:
- Vì vậy cháu ngắm bức tranh của họa sĩ, đôi cánh tay thật mạnh, đầy sức Hercule đánh đàn, để cố thu phục được người đẹp nào đó chưa cho họa sĩ nụ hôn có thực, chú ạ. Bữa nay cháu đề nghị với chú việc này nhé, chú bằng lòng không?
- Chuyện gì cháu chưa nói, lại bắt chú phải đồng ý, như thế có quá đáng không?
- Cháu có đọc một truyện ngắn “Người đàn bà nữ sĩ Đà Lạt” của chú đăng trên báo. Bữa trước cháu hỏi ba cháu có biết người đàn bà nữ sĩ ấy không? Ba cháu lắc đầu, bảo cháu hỏi chú. Vậy bữa nay cho cháu cùng đi thăm bà, được không?
- Biết người ta có tiếp không?
- Sao lại không? Chú gọi điện thoại hỏi bạn chú giáo sư Bích, nhân vật trong truyện của chú, rồi cả ba cùng đến thăm bà. Chú chiều cháu đi.
- Thôi cũng đành ừ ...

Thành phố cao nguyên, một sáng chủ nhật. Loại du khách như tôi, bao giờ cũng dậy muộn. Vì đêm qua; còn mải miết trong những quán cà phê, hoặc phòng trà; hoặc sau đó, còn tự dấn thân trong gió lạnh đi quanh hồ Xuân Hương. Khi ra đến phố nhìn đồng hồ, đã quá giờ hẹn với người bạn làm nghề giáo sư tư thục. Anh tuy còn trẻ tuổi hơn tôi; nhưng bề ngoài già nua ấy, không quan tâm bằng nội tâm.
Anh là người của giờ giấc; đúng hẹn và mỗi khi phải sai hẹn với ai, anh lấy làm khổ tâm nhiều. Tôi hớt hải, vội vã, lòng hơi lo lắng. Hẳn anh chàng này đang trách mình rồi nhìn đồng hồ tay, mà cho rằng quả là nghệ sĩ có khác! Từ lâu, tôi có ý định đánh lảng thành kiến với bạn bè; về cái gọi là nghệ sĩ bất cần gì đời đó. Phần lợi chẳng là bao, nhưng hại không phải nhỏ. Khi tôi đến gặp anh, câu đầu tiên là xin lỗi anh ngay. Vì anh bạn tôi đã mặc xong quần áo từ bao giờ rồi. Tay anh đang cầm chiếc tăm xỉa răng, và anh đang soi gương chải mái tóc, có nếp đường ngôi thẳng như xa lộ.
Hình như anh chưa lấy làm hài lòng vẻ đẹp của mình. Đáng thương, thực ra, không những anh có mặc cảm xấu trai; đúng như mẫu mực thanh niên ngoài đời bây giờ; anh lại còn giống triết-gia-văn-sĩ Giăng-Pôn-Xạc([9]) lé kim. Nên tôi vẫn thường đùa cợt anh một cách thật tế nhị, mỗi khi nghe thấy bạn hữu khen cô gái đẹp; tôi chêm câu này vào: “làm con gái không đẹp, uổng”“ con trai đâu cần đẹp trai, chỉ cần có tài, có tiền, có sức khoẻ”. Dường như, Huy, tên anh bạn giáo sư của tôi, đoán được ý nghĩ của tôi là đang cười thầm anh làm đỏm; nên vội lên tiếng bào chữa một cách thật tế nhị.
Như bài giảng nghĩa Việt văn của anh, dạy học trò đệ nhị vậy: “Tao vẫn thường nói rằng nói làm đàn bà không đẹp, uổng. Còn con trai chỉ cần có tài. Có phải vậy không? Nhưng tao vẫn hài lòng về tao, nên soi vóc dáng mình hoài hoài”. Tôi gật đầu và ngẫm nghĩ về anh chàng giáo sư này. Rất ít xưng hô tao, mày, trừ khi nào có hai đứa chúng tôi và khi đó cảm thấy rằng thân thiết lắm. Tôi cũng rất ưa xử thế lối ấy, tránh được suồng sã và đôi khi quá trớn. Huy hỏi tôi, bây giờ chỉ đi uống cà phê, tuyệt đối cấm ăn sáng. Tất nhiên đây là cách phạt tôi đến muộn, nên đành phải đồng ý. Trên đường đi đến quán cà phê, chợt anh dừng lại hỏi. Thật đột nhiên. Rằng. Tôi có biết tiếng nữ sĩ Vi Hằng? Tôi gật đầu. Huy hẹn sẽ đưa tôi đến, sau khi ở quán cà phê ra. Và anh lại đe dọa trước. Đại để người ta có chồng, con. Thì ra, Huy cho tôi thuộc vào loại chuyên viên phá phách hạnh phúc không bằng? Tôi bảo anh thế, nhưng giọng đùa cợt. Thì phải trả mạng này cho nhau chứ gì? Huy lại phê bình, qua đời tình ái, bằng câu này: “Tôi biết tính bạn quá mà!” Vẫn chưa yên lòng, anh lại căn dặn tôi thêm: Nữ sĩ mới chỉ biết tôi qua văn phẩm, chứ đừng cho người ta thất vọng rằng tin đồn bê bối về đời sống là đúng. Tôi gật đầu trả lời anh: Cuộc đời sự nghiệp nữ sĩ nhà anh, ai còn lạ gì? Vì nàng đã có một thời gian là người tình của thi sĩ Thoại. Và tôi biết cả bài: “Trăng buồn của thiếu phụ đổi ngôi”, do chính nữ sĩ kia, làm từ động cơ thúc đẩy của Thoại. Huy nghe xong, lắc đầu. Không phải anh phục tài biết rõ đời tư văn nhân, thi sĩ của tôi; mà anh cho rằng nói dóc để ra cái điều với anh.
Tôi không đính chính hoặc cố tâm biện bạch bắt anh tin. Nhưng bấm bụng, sẽ làm cho anh ngạc nhiên từ một đến hai nhiều nhiều nữa. Một lát sau thôi, nghĩa là hai chúng tôi bước ra khỏi quán cà phê tới nhà vợ chồng nữ sĩ. Với điều kiện giáp mặt được nữ sĩ.

Chiếc tắc xi đưa chúng tôi xuống ven hồ Đà Lạt, rồi tiến thẳng về lối Sài Gòn. Người tài xế hỏi Huy đi đâu? Huy vội vã trả lời: “Nhà ông Phạm L. nguyên Phó tỉnh”. Anh lại xác định thêm, các bác tài ở Đà Lạt này, có ai lại không biết biệt thự Ngọc Nga đâu? Nhưng bác tài này lắc đầu, trả lời một cách ngang ngược, trái lại ý của khách; bác không cần biết, ai biết bác cũng không cần đếm xỉa tới làm chi? Tôi hài lòng về sự ngang bướng hợp lý này của bác, nhưng không nói ra. Anh bạn tôi bắt đầu nhún nhường, giải thích về ông Phó tỉnh. Nào là trước kia ông là người danh tiếng ở đây, từ khi giữ chức Phó tỉnh, ai ai cũng khen ông là người tốt.
Bác tài trả lời biết sơ sơ thì cũng có biết; nhưng riêng bác lại không cần biết. Thế là Huy đành phải chỉ đường lối cho bác tài chạy xe. Quay sang phía tôi, Huy nói về lai lịch của gia đình. Như để cho bác tài biết thêm: một tiểu sử danh tiếng của một gia đình danh tiếng; tại sao bác là tài xế mà lại không biết? Nào là bà cụ ngoại, người thay mặt ông thân sinh ra chồng của nữ sĩ Vi Hằng. Bà là người giữ gìn coi sóc tư thất cho con rể. Đại để, bà là bạn thân với gia đình nhà văn sĩ lãnh tụ Tự Lực Văn Đoàn; một người đàn bà có quá trình tranh đấu cho nghĩa lý đời sống; bà từng là người khai thác đầu tiên mỏ than Nông Sơn bây giờ. Đến nay, bà ở đây, đất rộng; nên lập điện thờ cúng Phật mà cũng bị dỡ bỏ. Đó là vào thời kỳ Phật giáo đang bị nhà cầm quyền thời xưa làm lôi thôi, một Đức Cha, anh ruột của Tổng Thống đã ra lệnh cho dỡ điện; vì nó quá gần, so với nhà thờ mới thành lập. Bà từng lên án, nguyền rủa họ dùng thế lực đàn áp.
Nay chế độ cũ đã nhào; bà cũng chẳng còn ý định lập điện trở lại và oán trách làm gì? Vì một khi họ không còn sống nữa lại hết uy quyền. Huy dẫn giải thêm; vì vậy bà rất quý anh em văn nghệ. Họ khổ nhiều, sung sướng ít; cứ trông cái gương của văn sĩ Nhất Linh thì rõ.
Chị Nhất Linh lam lũ, tần tảo buôn bán nuôi con, nuôi chồng tự do đeo đuổi lý tưởng, nguyện vọng ấp ủ. Huy không những khen ngợi những người của tư thất này đẹp ở tâm hồn; mà cả tư tưởng lẫn đời sống của họ. Rồi tôi sẽ thấy nghiệm qua lời nói của anh. Tôi gật đầu song bao giờ cũng dè dặt, bất cứ được nghe một câu chuyện gì chắc nịch đúng hay nghe ai giới thiệu; qua môi miệng là có lòng với văn nghệ. Kinh nghiệm sống không cho phép tôi dễ tin; một khi chính tôi chưa được tiếp xúc, giảo nghiệm qua nhiều lần. Đường đi xuống đèo, tư thất ấy nằm nghiêng trên sườn đồi thông. Kế bên một khách sạn nổi tiếng của Đà Lạt: La Savoisienne, một ngày ngàn rưởi, giá cả bây giờ thì đắt đỏ thế, cho một ngày: ăn theo lối công tôn, hoàng tử([10]). Tôi nhớ, bởi con đường này lên khách sạn đó. Tắc xi trở lại thành phố; khi hai chúng tôi nhìn thấy biệt thự Ngọc Nga có hai cánh cổng mở rộng đón vào.
Bác tài cầm ba chục đồng trên tay, vẫn còn như không hài lòng với ông khách. Tôi nghĩ không phải vì tiền; có lẽ vì sự thất thố của anh bạn tôi khi nãy. Một bà cụ già tóc trắng, ăn vận theo lối đẹp của tiền chiến; ra tiếp đón chúng tôi. Anh Huy giới thiệu tôi là văn sĩ. Bà cụ rất niềm nở. Câu chuyện đầu tiên, bà cụ nói về địa điểm này. Bao nhiêu là Mỹ đến thuê, nhưng bà cụ khước từ. Lại phải nấu nước cho họ uống, đưa họ đi xem nhà, vườn tược. Có những anh thông ngôn người Việt làm cho Mỹ rất hãnh diện về vai trò làm thông ngôn. Nào anh ta hạnh hoẹ hỏi; sao bà cụ có nhà rộng thế lại không cho thuê, chủ nhà là ai, họ có thể tiếp xúc thẳng với chủ được không? Bà cụ nổi giận, nói độp vào mặt, chủ là tôi và tôi không cho thuê, mặc dầu nhà rộng. Bây giờ tôi bận, xin lỗi các ông, tôi không thể tiếp chuyện. Tôi nghe đến đây song tầm mắt vẫn nhìn ra ngoài vườn. Sườn đồi thoai thoải, hoa đào mơn mởn nở. Năm nay hoa đào hai lần nở, âu cũng là điềm lạ; Đà Lạt từ trước đến nay chưa từng thấy!
Đẹp nhất là đồi thông có cỏ, dưới chân thông là những mảnh lá khô trải đầy. Xác lá trơn nhoài, lá thông khô mướt cánh làm trượt chân khách nhàn du. Chẳng khác trải thảm vậy. Xin phép bà cụ ra vườn ngắm hoa. Tôi đi tìm một hình ảnh dĩ vãng, chôn vùi. Hôm nay tôi lang thang nơi này; trước kia là ai, sau này đến kẻ nào? Ấy, cứ hay nghĩ vẩn vơ, như lần nào đi bên cạnh người yêu, nàng thề thốt rằng hai người sống bên nhau, tôi đừng bao giờ phụ nàng.
Rồi chính nàng lại phụ bạc, đến lúc này; thì tôi đâu có trách nàng! Căn nhà này đã lâu đời lắm. Lối cất nhà giống như nông trại của những người chủ là người Ý vào thế kỷ trước. Trước ông chủ Phạm L. này; tôi đoán thế, họ giàu có; còn là một nghệ sĩ rất nhiều cảm quan sành nghệ thuật.
Trong nhà, phòng dưới rất rộng chiếm hết chỗ, một cầu thang bắc lên lầu, đi quanh một góc phòng. Ở nhà dưới, nhìn xuống đường dưới kia, có thể kiểm soát được cả một khúc đường quanh co. Gần hơn, hoa nở; xa hơn nữa; đường trần gian đang tiếp đón bước chân của thế tục lăn vào. Cả những ngày mù sương rét thật đậm, nhóm lửa, đốt củi và khoác áo đi xuống chân đồi; để nhìn thấy ảo ảnh chập chờn trên khúc quanh kia. Nhưng bây giờ người chủ này; tôi nghĩ thế, có một cuộc đời gần hết cống hiến cho luật hành chính mai rùa; họ còn đâu có chữ nhàn để thụ hưởng cảm quan kia! Bên Tàu thời xưa có những bậc phong lưu quân tử, làm quan, nhưng giàu cảm quan nghệ sĩ, chứ thời này làm gì có cảnh từ quan về sống ẩn tích, mai danh.
Họ chờ công danh ghế ngồi, như có một bức tranh trào phúng nào đó đã vẽ, cảnh chờ như ở nhà vệ sinh công cộng vậy. Đang mải mê với muôn vàn ý nghĩ, không đẹp gì cho chủ nhân căn nhà này bây giờ; mà thực ra thì tôi chưa biết họ lần nào. Thì nghe tiếng Huy gọi. Tôi trở lên, và chắc rằng giờ này Vi Hằng tới. Tôi nhớ ra lúc gặp bà cụ là người miền Bắc và sao Vi Hằng lại là người Huế?
Thì ra, người cháu ngoại của cụ đã bị câu: “thấy cô gái Huế bỏ đi chẳng đành” tóm mất hồn vía! Từ tầm mắt nhìn lên, xa xa hơn; thấy chiếc xe hơi Peugeot trắng, loại décapotable hai chỗ ngồi, đậu trước lối ra vào. Nhưng một đôi vợ chồng son, thì hẳn chiều chiều cảnh hai người đưa nhau ra xe, vụt lướt trên khắp nẻo đường thơ mộng, rừng thông, hồ Than Thở, khúc quanh mất hút sau hồ Xuân Hương, vẫn hai kẻ dìu nhau lên Sân Cù, sóng đôi từng bước trong Công viên Bích Câu, thơ và mộng biết chừng nào! Nhưng thêm dăm ba đứa con chạy đùa nghịch ngợm, vây quanh lấy bố mẹ cảnh thơ mộng kia không còn nữa, lại trở thành địa ngục trong chiếc xe hơi chật chội.
Anh Huy giới thiệu tôi với đôi vợ chồng họ. Người đàn ông có một vóc dáng chồng làm đỏm trí thức; nhận diện sâu hơn; sẽ thấy trên khuôn mặt đôi chút thông minh sáng sủa kia, chỉ là bề ngoài che cho một nội dung rỗng. Nhưng chàng rất bặt thiệp, của một thứ con nhà giàu; thuở nhỏ cha mẹ cho ăn học, thì lêu lổng chơi bời, lớn lên một chút tỉnh ngộ biết sửa sang cho mình có diện mạo trí thức đánh bóng!
Vợ mảnh khảnh, bốn con rồi; nhưng rất chịu khó giữ sắc đẹp; nếu không có đàn con kia, tôi chỉ có thể đoán chừng một con là cùng với cảm quan khám phá bề ngoài. Khuôn mặt khá xinh, nhiều đam mê ngầm, bặt thiệp và da bánh mật. Ôi thôi da bánh mật, thứ đàn bà đa tình lại thêm vào mác nữ sĩ, tác giả những bài thơ chan chứa hiện sinh! Ôi thôi, lại hai lần ôi thôi, lại phải lấy một anh chồng không nghệ sĩ tính! Một giáo sư không giờ; anh chàng chỉ trông coi trường học như một Giám đốc Hiệu trưởng.
Một thứ có làm chủ báo, thì anh ta thuộc vào loại không biết viết bài; nhưng có tiền và thế lực để làm chủ nhiệm xuất vốn. Song nghề báo còn có thể gián tiếp bịp độc giả được, bằng cách mượn người viết bài, dưới ký tên mình. Và chịu khó thuê thư ký đánh máy cho hai tuồng chữ trở thành duy nhất; không ai còn biết bút tự nào là của ai, của mình là được!
Còn giáo sư Giám đốc, khó mà vào lớp học khi không có khả năng dạy học trò. Tôi luống cuống khi xiết tay người chồng, nghe chàng ta khen tặng tôi: “Nghe tiếng anh từ lâu, hôm nay được hân hạnh gặp mặt”. Tôi cũng muốn nịnh anh chàng một câu tương tự; nhưng tiếc thay, anh không là nhà báo, dầu chỉ một chữ biết ký tên, hay là tác giả một bài báo mua thôi, cũng sẽ đem lại cho chàng một câu đền đáp tương tự...
Tôi đành chịu nhận lời khen miễn cưỡng của anh, có đi, không có lại. Quay sang phía người vợ, nàng nghiêng đầu như con chim gi đá, của lần đầu đứng bên chồng ngoài tổ ân ái mới xây xong. Nàng nói với tôi, câu khen tặng nồng nàn hơn chồng. Tuy rằng cũng là được biết anh từ lâu, nay mới gặp mặt. Nhưng vì có căn là nữ sĩ; nên không ngô nghê, sáo mép láo khoét như anh chồng.
Với chồng nàng, tôi dám chắc, một tên tôi thôi, anh chàng cũng mới chỉ nghe lần đầu đây thôi; sao lại nói khen nhau là biết tiếng từ lâu? Với vợ, tôi nói ngay rằng có đọc nhiều thơ của nàng. Như loạt bài trong Mộng tưởng và cuộc đời. Nàng ngạc nhiên, hỏi dồn dập tôi, nàng có đăng nhiều thơ đâu mà tôi được đọc? Ngó sang Huy, chắc bạn tôi đang lo thay cho tôi bị hố với nữ sĩ. Tôi thấy gương mặt anh phản ánh sự lo lắng. Mà thực ra, tôi đang lâm vào thế bí như Huy nghĩ. Song đến câu trình bày là nhờ thi sĩ Thoại cho mượn bản thảo. Nàng hạ giọng, tiếng à như đã biết rồi; nhưng nàng cũng muốn đánh tan sự nghi kỵ của chồng từ bao lâu nay. Tôi cố ý như vậy, vì có lần tôi bảo Thoại, khi nghe xong, anh bảo bài thơ Trăng buồn của thiếu phụ đổi ngôi là sự thất tình lớn lao với Hằng, tình con cô cậu ruột. Bây giờ Thoại đã chết, anh nổi danh, sau khi hết được làm người. Vi Hằng hơi thất sắc khi trả lời tôi: “Vâng, chỉ có anh Thoại là có thơ tôi. Anh với Thoại là bạn, tôi có biết tin này. Giữa tôi và anh Thoại, ngoài cương vị anh họ, chúng tôi còn là bạn thân. Nhưng chúng tôi sống với nhau qua tình bạn nhiều hơn”. Người chồng im lặng, có sự ghen ngầm điều ấy; tôi đoán được, từ khi sắp nói. Tôi định tâm sẽ đem chuyện tình của văn sĩ Hoa Kỳ, Edgar Poe ra, làm thí dụ; chỉ cần kể mối tình người em họ, hẳn sẽ làm khổ Vi Hằng, và càng nhiều hơn nữa là anh chồng. Cũng phải nói rằng, khi ấy, tôi cũng có một sự trả thù. Những tên vô loại của cuộc đời, chúng dùng tiền để cướp những tình nhân của nghệ sĩ – chúng đâu có cần tình yêu; chúng chỉ đem tiền ra mua, chỉ cần chúng đánh trúng một điểm tâm lý này thôi, đủ làm cho văn nghệ sĩ thua cuộc rồi.
Là: “Em ơi! Đồng tiền tuy bẩn thỉu thật, nhưng không có nó cuộc đời sẽ bị trở ngại. Em yêu chàng thi sĩ kia, được lắm! Nhưng em có thể mài cái tài sản của thi nhân ấy để nuôi hai đứa không? Tốt hơn hết, tuy anh không xứng đáng như thi nhân; hay đúng hơn, không được may mắn em ban cho tình yêu kia; nhưng anh có tiền đủ bảo đảm đời chúng ta thật dư dả! Em vẫn cứ yêu thi sĩ, nhưng cho phép anh được cưới em, anh hứa không bao giờ ghen, anh hoàn toàn tôn trọng đời sống tinh thần trầm lặng của em. Em không thấy ư? Đời nghệ sĩ là yêu muôn vẻ đẹp, nay yêu em, rồi mai yêu người khác, có bao giờ yêu độc nhất một người nào? Tình yêu của nghệ sĩ là tình yêu vạn vật, của tất cả muôn vẻ, muôn màu. Em là thi nhân, chắc em đã và không quên Hồ Dzếnh, từng bày tỏ tâm trạng chung của họ: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở/ Đời hết vui khi vẹn câu thề.” Em cho phép anh được cùng em chung sống chuỗi ngày dài trong cuộc đời, khi em hết còn mang hình bóng nghệ sĩ hay là trái lại cũng vậy”. Tôi không hiểu chồng của nàng, có thể nói được giọng văn đại để như vậy không. Nhưng chắc chắn phải có một tài riêng để chiếm người đàn bà nữ sĩ kia, làm sở hữu riêng tư của mình. Trong câu nói không chút gì giấu diếm, Vi Hằng nhấn mạnh: với Thoại, chúng tôi sống bằng tình bạn nhiều hơn. Hẳn mười năm trời đằng đẵng, nhiều đau đớn ngầm cho người đàn bà! Đúng hơn, cho cả hai. Một nghệ sĩ, lấy một người không có tâm hồn nghệ sĩ, sẽ làm khổ mình khổ kẻ khác, lẽ tất nhiên không thể nào tránh được! Tôi để ý Huy, nhưng anh lảng tránh từ bao giờ!
Huy cùng dạy một trường; và chồng Hằng là người bỏ tiền. Hay rõ hơn, Huy được thuê dạy, họ trả lương; làm sao tránh được phiền hà cho anh! Nếu chẳng may, có chuyện gì xảy ra; dầu sao tôi cũng là người do Huy đưa đến. Linh cảm tôi dường như cho biết trước rằng Huy đang lúng túng trước câu hỏi khêu mào, về chuyện tình của Thoại và Hằng. Bây giờ anh trở vào phòng khách, ngồi chung với chúng tôi.
Người chồng bày tỏ thái độ bực dọc, ghen tài với dĩ vãng vợ mình; bằng cách đuổi lũ con nghịch ngợm, bắn súng pàng pàng bằng pháo; làm nhức óc người lớn ra chỗ khác. Bà cụ ngoại đang thao thao bất tuyệt, về tài giữ báo chí của bà. Nhân đến chỗ nhà văn, thơ; nên hãnh diện về sự tô điểm cho văn nghiệp mình và cả cho sự nghiệp văn chương nước nhà được thêm phần rạng rỡ. Bà cụ đưa cho xem một tờ báo hàng ngày. Trong đó có bức tranh hí họa trào phúng, nội dung, người cha đang ăn cơm, mà tay không rời tờ báo đọc. Khi nhìn lên đồng hồ, thấy gần một giờ; đến giờ đi làm bảo con cất đi, chiều ở sở về nuốt tiếp. Huy nói ngay rằng, ông công chức nào không biết; chứ với Vi Hằng (nàng cũng còn là một công chức) đâu có tệ hại như vậy! Vì đã có ông (quay sang phía người chồng) đưa tới sở, trước giờ làm việc vào buổi chiều. Câu chuyện khôi hài này, thực ra nếu không có sự hiện diện của tôi; thì câu chuyện khơi mào về ghen với dĩ vãng của vợ, khiến người chồng khó chịu ra mặt, thì đâu đến nỗi nào!
Với tôi, tôi không muốn biết như vậy, và sự cố ý này vẫn hiểu bằng thái độ, của điềm nhiên nói chuyện với vợ anh. Nhưng tỏ ra rất bặt thiệp để người chồng muốn bắt lỗi, mà không sao tạo được cơ hội, trừ sự cố ý gây hấn thì không kể làm gì. Tôi nhắc lại chuyện Thoại và những truyện ái tình đau đớn, cả đến bạn là những tên văn nghệ Mít, Xoài; gọi là cố kết với Thoại còn sống đói khổ nghiện ngập, chúng nó có tiền lại lắc đầu không trợ cấp cho bạn. Khi Thoại chết, chúng xây lưng lại với nhau nhìn mặt Thoại. Bằng cách góp tiền làm cỗ tế ruồi khóc lóc thảm thiết trên tạp chí Sáng Tạo. Tôi lên án sự vô liêm sỉ như loài vật cũng không làm như vậy! Người vợ ghen, ăn nói cũng rất kín đáo; hẳn còn làm khổ nhiều kẻ thèm muốn; hơn nữa tôi cũng có ác ý: khêu lại cái quá vãng thật diễm lệ, hoặc nói đến cái tương lai, bất cứ thứ tương lai gì; miễn là làm chán nản hiện tại. Vì tôi hiểu rõ rằng, không một người đàn bà Huế nào, chịu yên phận với hiện tại. Bất cứ với hiện tại nào, và cho bất cứ loại người nào: sang hèn, giàu, nghèo. Mỗi một kẻ, tùy theo hoàn cảnh, mà khơi lên cho họ; đó là nghệ thuật làm cho họ chán chường hiện tại đang sống. Với tôi, thì cố ý là hành hạ người chồng. Anh chàng nghệ sĩ giả hiệu này, hắn càng thấm đòn hơn; khi nhìn vợ suy ngẫm. Người được gọi là vợ mình kia, thật ra mờ ảo quá; có khi nghĩ ra lại không là vợ mình có thực. Có trong tay thực tại mà dường như mất rồi. Mang tiếng hình hài vợ mình, song lại biết chắc tư tưởng, tâm hồn vợ không còn tùy thuộc vào mình nữa; đau đớn kia sẽ hành hạ thân xác nhiều lần hơn. Tôi lại hay bi thảm hoá thế thôi để nhìn anh chồng, chắc gì hắn khó mà nghĩ được vậy. Tôi nhìn đồng hồ, mười một giờ hơn. Tôi có cái hẹn với một gia đình cô em; tôi chớm để ý đến cô ta, xưa nay với ai cũng thế; nhất là với giai cấp bình dân lao động; tôi lại càng tỏ ra mình giữ đúng lời hứa. Trưa nay, mười hai giờ, họ mời ăn cơm. Hơn nữa, tôi tưởng làm đau đớn cho anh chồng như thế cũng tạm đủ. Một thứ tình cảm trả thù cho nghệ sĩ, bị kẻ bình thường dùng tiền cướp người yêu. Tôi lại không ngờ mình có thể làm như tha thiết với Vi Hằng, điều này quả khó khăn! Nhất là đối với đàn bà, mà lại là thứ đàn bà nghệ sĩ.
Phải cần đến người đóng kịch, đóng thật nổi, mới làm cho kẻ ngồi nghe tin mình là chân thành. Còn khó hơn nữa, làm sao mà đạt tới được, khi mà có sự hiện diện của người chồng. Tôi xin phép bà cụ, hai vợ chồng, anh Huy có hẹn; nên không thể cùng ở lại dùng bữa trưa. Nhưng không một ai cho tôi từ chối cả. Nhất là người chồng, vô cùng khôn khéo tiểu xảo kia; tôi biết chắc chắn rằng trong lòng chàng, là muốn tống khứ tôi đi cho rảnh mắt. Tôi biết thế, đau đớn cho chàng, tôi đã biết rõ thế. Tôi nhìn đồng hồ; 11 giờ 30. Có trở về cũng chẳng sao kịp, tại chỗ này, không dễ dàng gì có xe. Có khi phải chờ hàng tiếng đồng hồ, chờ xe của Sài Gòn lên, nếu xe còn chỗ trống. Thường ra các xe qua đây đã đầy hành khách.
Nên tôi đành ở lại. Nhưng tôi nói thẳng chỉ dùng bữa một cách qua loa thôi. Tôi thú thật, còn phải để bụng trở về chỗ hẹn trước. Cả gia đình này đồng ý với tôi như thế. Khi sắp chỗ ngồi vào bàn ăn, người chồng ngồi đối diện với tôi. Còn Hằng, nàng ngồi vào đầu bàn. Bên kia, anh chồng thấy vậy, lần này anh ta quạu quọ, nói thẳng điều này trước mặt mọi người: “Mình ngồi đằng này chứ, sao lại ra ngồi tận đấy!” Tôi nhìn sang Huy, nhưng Huy đã hiểu rồi. Một sự xung đột bắt đầu tỏ lộ công khai. Vi Hằng phải chiều theo sở thích chồng. Tuy khó chịu, nhưng nảng yên lặng sau bắt đầu nói chuyện nhiều với tôi:
- Quyển tuyển truyện([11]) của anh mới in đẹp đấy chứ! Trông giống sách Pháp lắm. Nhưng, có một điều sẽ khó bán. Trình bày khổ sách, cũng như lối viết; đòi hỏi độc giả thuộc loại riêng.
Tôi im lặng. Người chồng cũng khen chung với vợ, qua ý kiến trên. Tất nhiên, tôi không trả lời anh chồng. Mà chỉ quay sang phía người vợ.
- Thực ra, thưa chị; đó là một người bạn yêu tôi bỏ vốn. Anh ta cũng là văn sĩ, nên vui lòng in một tác phẩm theo ý tôi thích. Thương mại, buôn bán tính sau.
- Anh viết truyện Người đàn bà không tóc cũng lạ!
Tôi bắt đầu lúng túng. Vì lẽ truyện Hằng khen thuộc loại tả chân hiện thực. Nói về một đàn bà làm điếm, yêu lại chung tình. Xã hội không cho phép chị ta làm lại cuộc đời. Tôi cố ý lên án xã hội dân chủ no ấm giả tạo, của chế độ Ngô tổng thống. Sau đó, Vi Hằng hỏi tôi về nhà báo, tên Duy Khôi. Riêng với tên bạn này thì bất cứ đàn bà con gái nào, mà đi với anh ta rồi nào có tha cho ai đâu; ít nhất cũng phải chịu trận một cái hôn nhẹ. Rồi chống đối hay là giữ thủy chung với chồng con, hãy giữ sau. Tôi biết chuyện về thằng bạn thân này; người yêu của nó là nạn nhân của Ria Sâu Róm. Anh ta là ký giả của nhiều tờ báo có tiếng tại thủ đô. Anh sắp cưới vợ. Một thiếu nữ miền Nam, ngoan và đẹp.
Duy Khôi quen khá thân với bạn tôi. Một hôm, Duy Khôi đưa xe hơi đến nhà, nói với người vợ chưa cưới của ký giả rằng: Trần Quân ở tòa báo bị xỉu, bất tỉnh. Nàng vội lật đật ra đi theo Duy Khôi đến bệnh viện cấp cứu. Khi lên xe hơi, Duy Khôi lại đưa nàng ra ngoại ô, thay vì vào bệnh viện.
Tôi được nghe kể đến đây, không hỏi thêm chuyện gì xảy ra sau đó. Nhưng chỉ biết nàng khóc lóc vô kể, sau đó Trần Quân hủy đám cưới. Cũng chẳng ai thèm trách Ria Sâu Róm một câu nào! Đến nay anh chưa lấy vợ. Hơn ba mươi. Trần Quân nể bạn một phần, phần nữa là nể danh nhà văn lão thành là thân phụ của Duy. Tôi chắc thế. Anh bạn ký giả của tôi rất kính mến cha của Duy Khôi, chủ soái Hàn Thuyên.
Tôi ăn uống vội vã xin rút lui. Tôi bảo Huy ở lại với gia đình này rồi về sau. Tôi biết chắc chắn rằng khi tôi ra đi rồi; Hằng sẽ trở thành nạn nhân của chồng. Nhưng Huy không ở lại cùng theo tôi ra phố.
Người vợ bảo chồng tiễn khách lên chợ. Chúng tôi lấy cớ đi xe hàng tiện hơn. Tôi rất cám ơn về sự quý hoá của anh đối với chúng tôi; như để che mắt sự nút rạn, tạo nhất chí gia đạo trong gia đình anh. Anh chàng đeo kính trắng, chính nhìn rất thiển cận. Và khi anh chồng hỏi tôi địa chỉ tôi ở lại trên Cao Nguyên; anh chàng này định áp dụng thủ đoạn thường có trong tay, dùng bạo lực cao bồi khử trừ phần tử nào nghịch với mình chăng? Như anh chàng vẫn áp dụng với trường lớp tranh giành học sinh với trường khác. Với tôi, để trả thù cho bõ ngày hôm nay chàng bị sao quả tạ chiếu. Tôi cũng chẳng ngại gì, giấu diếm chàng. Tôi trả lời ngay:
- Rằng nếu được anh chị thăm, quả là hân hạnh cho tôi! Nếu người nhà nói tôi đi vắng, xin anh chị cứ bước thẳng vào nhà. Đó là dấu hiệu cho người nhà biết khách thân thuộc. Bởi có một lần, bọn cao bồi đến nhà tôi ở Đà Lạt hành hung; chỉ vì đêm trước, tôi mời cô vũ nữ đẹp nhất đi chơi quanh hồ. Tôi đành chịu ra đòn. Nên từ đó người nhà bạn tôi sợ cảnh máu me tái diễn; nhớ đến khi ai hỏi tôi; bất cứ ai, họ nói đại tôi đi vắng. Và khách quen thì cứ vào nhà. Vì lần tôi bị máu me, những ba anh cao bồi đánh hội chợ, một mình tôi chống chọi không nổi. Cuối cùng tôi bị thương.
Đi ra ngoài lộ, tôi đã bảo ngay với Huy. Rằng anh có sợ bị thất nghiệp không? Anh ngạc nhiên, trả lời chậm rãi là không. Cứ làm như anh sống nhờ vào trường ấy? Nếu không, anh ta chết đói sao? Tôi trả lời anh, sở dĩ tôi biết hậu họa đến, nên phải hỏi anh trước. Trong trường hợp cần thiết, tôi có bổn phận báo anh em sửa soạn giờ trước cho anh dạy ở Sài Gòn. Người chồng nữ sĩ được hân hạnh mang danh của vợ kia là “anh Vi Hằng”; tôi vẫn thường ám chỉ cách gọi danh vợ, thêm chữ “Anh” lên trên; cho người chồng của nữ sĩ nào không danh tiếng tài ba bằng vợ. Thế nào cũng có một sự cãi vã, hành hạ nhau: Kẻ chịu nhiều hậu lụy lúc này, chính là tôi. Song tôi không còn ở lại Cao Nguyên bao lâu, nên Huy phải nhận hậu quả thay. Huy vẫn coi thường chuyện này. Rồi anh tự cho rằng người chồng nữ sĩ kia chẳng đổ tội cho anh được! Tôi bảo anh, hãy chờ một thời gian nữa không lâu, anh trả lời tôi dứt khoát hơn. Bổn phận tôi phải báo tin cho anh biết, chuyện sẽ xảy đến. Tôi im lặng rồi chúng tôi chia tay nhau.
Hôm sau, bà cụ ngoại đã hớt hải lên phố chợ Đà Lạt. Kể lại tất chuyện cãi nhau của đôi vợ chồng, sau khi chúng tôi ra về. Nguyên nhân của chuyện tình ngày cũ. Người vợ bé nhỏ kia, nói với thằng chồng rằng: Mi bóc lột đời tau mười năm. Nay tau không còn gì để không nói cho mi rõ. Người chồng bảo giống nghệ sĩ là giống đa tình. Chưa thấy trai mà cứ như rước nó vào nhà. Từ nay cấm không cho thằng nào là nghệ sĩ gặp vợ nữa. Hành văn một cách tục tằn là như vậy. Nên bà cụ phải lên báo tin cho Huy rõ. Nếu chị ta có tìm nhà văn gì, bảo ông ta đừng đi, đừng đến làm gì, vì chuyện chẳng lành cho họ. Huy bảo tôi vậy. Lại nhận một cách gián tiếp rằng người chồng nữ sĩ có trách Huy tại sao cho tôi gặp vợ chàng? Mà đúng lý  ra, chỉ nên gặp một mình người chồng thôi. Vợ anh nhiều đức tính bốc đồng. Không nói ra thì Huy đã rõ rồi.
Tôi mỉm cười trả lời Huy. Rằng tôi đã gọi điện thoại lại thăm Vi Hằng chiều nay tại nhà hàng ca nhạc. Trước hết, tôi xin lỗi sự có mặt của tôi, làm rộn gia đình nàng. Và tôi cũng sẽ lại thăm chồng nàng. Lời xin lỗi tương tự. Tôi rất ân hận, không ngờ tôi là một thứ cản trở, làm gia đình cãi nhau.
Huy nghe đến đây, nhẩy lên như choi choi. Tôi cười, không đáp lời anh, hỏi thật hay đùa? Tôi bảo Huy, anh cứ điện thoại hỏi thẳng Vi Hằng. Tôi nhớ số điện thoại của Vi Hằng rồi.
Sáng hôm sau, tôi ra bến xe về Sài Gòn. Lần sau, lên nghỉ mát ở Cao Nguyên, tôi chẳng lại thăm ai. Chuyện tình Người đàn bà nữ sĩ Đà Lạt đang nhảy trên những giòng chữ đánh máy.
Sau ngày đảo chánh 63, báo chí được phép xuất bản nhiều tờ, trong số ấy có tên Anh-Vi-Hằng là chủ bút một tạp chí Phụ Nữ rất nổi tiếng, thuộc vào loại báo đàn chị của Sài Gòn thanh lịch.

Đào quay sang bảo chú:
- Mấy ông văn nghệ sĩ rắc rối lắm! Cháu chỉ thích yêu mà không như mẹ cháu đã yêu, rồi làm vợ bố cháu.
- Chú đồng ý với cháu hoàn toàn.
- Chú có nhiều kỷ niệm với Đà Lạt. Chú có thể kể cho cháu nghe một chuyện nào khác không? Cháu sẽ không bắt chú kể nữa đâu, trừ một chuyện duy nhất này nữa cháu yêu cầu.
T3 nhớ lại chuyện thằng bạn nhiếp ảnh ở Đà Lạt. Tên nó, chẳng quan trọng bằng sự sống một thời của nó. Là đàn em của một chính khách, sau đàn anh trở thành Bộ trưởng Thông tin, người kế chức vụ của Tổng trưởng Thông tin Phạm Xuân Thái vào cuối 1955 ở Sài Gòn. Đổng lý văn phòng của Bộ trưởng là Lê Khải Trạch. Đổng lý Đoàn Cù trong truyện, ngoài đời chính là tác giả tập thơ Nhạc Dế và Tê Ba văn sĩ đội tên Thoa, thằng nhà báo mất dạy. Trước khi kể cho Đào nghe, thâm tâm tôi cũng muốn cho Đào biết rằng chỉ nên có cảm tình với chú, còn thực tế muốn chú đóng vai bố cháu cưới con gái của kịch tác gia kiêm Giám đốc nhà xuất bản lớn có hạng tiền chiến (Tân Dân), chú cũng đành không dám. Bởi thế, Đào ạ, chú thật sự muốn hôn cháu, nhưng lại không dám... là vì vậy.


b a

H
ơn ba mươi tuổi, một vợ sáu con; kể ra tôi là người thuộc số không lấy vợ sớm, không sao ngủ một mình được! Mấy thằng bạn lấy vợ muộn thường mỉa mai tôi như vậy. Thực ra, trong lương tâm của tôi chỉ áy náy ray rứt; khi gia đình có chuyện lôi thôi. Thảo, thuộc loại đàn bà hiền lành, một thứ mái đẻ; chăm sóc con cái rất chu đáo. Không phải tôi có ý chê vợ tôi xấu hoặc không dám cho bạn bè biết rằng mình có vợ, như vậy là người ta chê vợ mình. Thực ra, Thảo không đẹp; nhưng có duyên, một người đàn bà xinh và có dáng dấp của con nhà quý phái. Nên đôi khi gặp bạn bè thân; mà không mấy hiểu về gia đình tôi; có nghĩa ít khi họ biết địa chỉ riêng của tôi, tôi thường nói dối là chưa lập gia đình. Để lấp trống sự nghi ngờ của bạn, trong túi sẵn tiền, tôi đưa họ vào những chỗ trăng hoa, uống la-de và giải độc tinh thần thèm muốn đàn bà. Vậy họ chẳng còn cách nào tin rằng tôi có vợ. Làm công chức hạng C như tôi, buổi chiều thứ bẩy như buổi nay, còn gì sung sướng hơn! Chỉ ngày nghỉ tôi mới làm chủ mình, không còn bị các xếp sai bảo, chèn ép. Nghề công chức của tôi; có nghề chuyên môn riêng, nghề nhiếp ảnh; dù có một vài mánh khoé để bịp, mà còn không sao chịu nổi cấp trên! Chiều thứ bảy đầy sung sướng kia, chỉ có vào cuối tuần; nhưng lần này làm tôi điên đầu!
Nằm ở nhà; không sao ngủ được giấc trưa, nhất là nhìn vợ con sụt sùi khóc. Chẳng là tôi sắp bị đổi đi một nơi đèo heo hút gió. Đất đỏ miền Pleiku. Tôi sẽ phải xa Đà Lạt thân mến, nơi tôi có mặt từ bốn năm nay. Trước ngày đó, tôi ở Sài Gòn. Tôi được tuyển mộ vào làm Chủ sự phòng Nhiếp ảnh, khi một đàn anh của tôi nắm chức Bộ trưởng. Bây giờ tôi mới nhận thấy rằng, càng làm cao càng dễ nhiều tiền và càng nhiều quyền hành. Nhưng phải có một điểm: biết gò lưng và nịnh. Như tôi, một ông Chủ sự đến sở muộn; không ai dám ho he, mà mỗi khi dân chúng cần tìm tôi, đã có nhân viên thuộc hạ, tay chân biện hộ rất hữu lý.
Một ông Chủ sự có xe hơi riêng, tiền nhiều hơn công chức thuộc hạ. Vả lại, trên chóp Bộ; tôi là đàn em của một vị Bộ trưởng; muốn vào ra lúc nào cũng dễ dàng. Nên ngay ông Xếp của tôi cũng nể mặt khôn cùng! Lúc đó, thật ra tôi không nghĩ đến tài năng; mà bây giờ xét lại, nếu có, thì tài của tôi chỉ là tài năng vặt. Chụp một bức hình cho ái nữ Bộ trưởng, trên bãi biển chẳng hạn; có cả đường hằn da thịt, tôi đủ tư cách được Bộ trưởng thân tín giao phó cho làm Chủ sự rồi. Nên nhớ rằng, nhân viên thuộc hạ của cấp cao chót, không căn cứ vào khả năng; chỉ căn cứ vào thân thuộc, tin cậy, nhiều hay ít, thế thôi. Càng thân tín, càng lên chức cao. Một ông Xếp làm được việc, nhờ ở những ông chủ sự giỏi, một ông Chủ sự giỏi là nhờ công việc góp lại của những thuộc hạ; công lao có thì cấp trên trực tiếp nhận, còn lỗi đã có cấp dưới gánh. Hệ thống của anh lính ra mặt trận và viên chỉ huy trung, đại đội, tiểu đoàn cũng như vậy; nghĩa là giống hệt trong công sở chúng tôi. Ba năm ròng, đàn anh của tôi ngồi trên ghế chính quyền, tôi và những thuộc hạ thân tín khác, chỉ làm công việc thổi phồng đàn anh. Tìm những thủ đoạn như đoạt tâm lý quần chúng vào trong phương thức tuyên truyền; như chính trị gia phát xít áp dụng. Có thế, chúng tôi, những dây leo mới có thể lên cao; khi đàn anh của chúng tôi có uy thế. Lý luận, dễ hiểu hơn, đàn anh của chúng tôi có vững ghế, thì chúng tôi mới có cơm áo nhiều, làm việc ít. Song một khi nào đó đàn anh rục rịch phải xuống ghế; ai nấy đều lo chạy chọt cho mình một chỗ yên thân. Riêng tôi, bây giờ mới nhìn rõ rằng, tài nghệ về nhiếp ảnh chẳng có là bao! Nên không thể ngồi lại trong Bộ, để đối địch với những người khác. Tôi đành phải xin đổi lên Cao Nguyên, một nơi xa xôi; mà tin rằng sẽ yên thân nuôi vợ con. Khi đàn anh nhìn sự vụ lệnh của tôi, anh rầu rầu bảo, nhắn nhủ mấy câu. Đại để là chịu khó yên thân trên ấy ít lâu, rồi sau anh em mình lo liệu. Tôi cảm ơn anh Cả vô kể. Anh Cả hỏi thăm về gia đình tôi, nhất là về Thảo. Vì Thảo họ hàng xa với anh Cả. Kể ra, thật tôi lấy vợ một cách thật tình cờ.
Vào Nam, theo làn sóng di cư. Không bố mẹ, đại gia  đình, hoăc thân thích. Một sự mạo hiểm; khi nghĩ rằng trong tay có một nghề nhiếp ảnh. Trong chuyến đi này, tôi quen người nhà của anh Cả. Dần dà, trong câu chuyện trên tàu, người ấy thương tình, nên đưa tôi về nhà anh Cả. Tôi sống trong gia đình này, được ưu đãi một phần; cũng nhờ vào cái nghề biết chụp ảnh.
Trong những lần anh Cả đi nghỉ mát ngoài biển hoặc Cao Nguyên, có tôi theo tháp tùng. Khi  anh Cả sửa soạn lên làm Bộ trưởng, tôi được làm trong Bộ và cất nhắc dần lên chức Chủ sự.
Khi có tiền lương tháng rồi, người ta cũng như tôi, việc nghĩ đến đầu tiên là lập gia đình. Không ai, ngoài với Thảo, con cái họ hàng xa với anh Cả. Trong Thảo có những nét hấp dẫn của người con gái dậy thì, cộng với đêm lạnh giá ở Đà Lạt; tôi đến lại làm quen với Thảo một cách lén lút trong khách sạn. Ấy thế mà anh Cả giúp tiền nong. Ba năm làm Chủ sự, ba đứa con chào đời. Con gái lớn, thằng trai thứ, con bé thứ ba; cho đến nay năm gái, một trai. Thì rắc rối của cuộc đời bắt đầu vây quanh lấy gia đình tôi. Câu chuyện thật ra rất giản dị. Đầu tiên của sự bị đẩy đi xa là mâu thuẫn giữa tôi và Trưởng ty. Của nhiều lần tích lũy. Nhưng cho đến khi em vợ của Châu, một xếp nhỏ của tôi; sửa soạn lấy vợ ở đây. Rồi chú ấy muốn ở lại Đà Lạt vì thích không khí giá lạnh. Vài hàng về Châu. Cũng làm nghề nhiếp ảnh như tôi, lâu năm trong nghề; đầy những mưu mô; thủ đoạn ấp chiến lược để giữ ghế cho mình. Như trong kỳ tháp tùng Ngô tổng thống, anh biết sở thích của Người thích sưu tập chẳng hạn. Thế là khi về rồi, Châu đã loan tin khắp nơi nào là Tổng thống sành điệu trong nghề, dầu không là nhiếp ảnh viên: song người chụp một cuốn phim 20x36 , chụp không hư một kiểu nào; cái gì có đôi chút chuyên môn, tất nhiên trong sự khen có nịnh bợ kia cũng không đến nỗi khó nghe cho lắm!
Giữa ngày chủ nhật đi chơi về, nhà tôi nói lại rằng anh Châu đến tìm đi chụp ảnh cho Tổng thống, lại không gặp tôi. Anh ta đành phải đi thay vậy. Khi Châu về, Châu báo cáo lên trên, tôi bỏ việc; anh ta phải nhờ em vợ đi chụp thay cho tôi. Người em vợ Châu tên là Hoài, chụp ảnh rất thành công; hy vọng rằng được Tổng thống khen. Quả như là có sự sắp đặt trước, viên Xếp tin Châu bắt đầu ghét tôi. Ít lâu sau, ông ta làm báo cáo về Tổng Nha; tôi bỏ nhiệm sở đi chơi, bê bối về đời sống gia đình, đề nghị đổi tôi lên Pleiku. Hoài sẽ được tuyển dụng, thay thế chỗ của tôi ở Đà Lạt.
Không hiểu sao Trưởng ty lại có nhiều tài liệu bê bối về tôi đến vậy! Bao nhiêu là tội; nào là chịu nợ nhà ảnh, ăn chịu ở quán, say sưa tối ngày. Cả việc tôi liên lạc với viên Thanh tra của Tổng Nha lên đây thanh tra; trước đó ăn cơm ở nhà tôi. Sự kiện gây cảm tình này là âm mưu cho liên hệ kéo bè cánh định lật Trưởng ty. Thanh tra Kinh, tôi quen anh, từ khi anh Cả làm Bộ trưởng. Khi anh lên đây gặp tôi, anh vẫn niềm nở, săn sóc, thăm hỏi đàn em cũ của anh Cả. Anh có ý muốn về nhà riêng của tôi để thăm Thảo. Tôi không quên câu nói của anh Kinh: “Thảo đẹp như hoa khôi Hội Chợ, em lấy được nó tốt số lắm! Thực ra, tôi muốn lảng trách việc thăm hỏi này. Không ai còn lạ gì Kinh, nguyên tỉnh trưởng Nam Định trước. Thời Thủ hiến Nguyễn Hữu Trí, Đại Việt quan lại. Dâm ô và xách thủ tiền tài khét tiếng. Khi Kinh làm Thanh tra Tổng Nha, vỏ chải chuốt của anh làm cho bao nhiêu cô cán bộ; chỉ vì mê chức tước, nệm trắng xe hơi; rồi đành chặc lưỡi; khi ở giữa khoảng trời bao la bát ngát; chỉ còn lại hai kẻ; đó là Thanh tra Kinh và nữ nhân viên thuộc hạ.
Nhưng sao tôi lại dẫn anh Kinh về nhà, vì tôi là họ hàng của anh Cả. Thật ra, tôi muốn lên mặt với Châu, với ông Trưởng ty nữa, tôi có đàn anh là Thanh tra của Tổng Nha. Về nhà ăn cơm, Thanh tra coi tôi như thân bằng, quyến thuộc; tôi dẫn ông ta đi chơi. Cái oai kia đã làm tôi vinh dự lây ở bậc đàn anh. Sau khi tan sở, tôi dẫn anh Kinh về nhà. Tôi gọi thật to tiếng cho vợ tôi biết là có đàn anh tới. Vợ tôi nhìn thấy Kinh, lộ vẻ mừng. Nhưng Thảo không tha thiết như tôi. Kinh khen, hỏi thăm Thảo qua loa; từ đó cho đến lúc ra đi, vẫn có điều gì ẩn chìm giấu kín; chưa dễ dàng bộc lộ. Để Kinh ở phòng khách, tôi vào nhà trong. Bàn với vợ, anh Kinh đòi ăn cơm nhà mình. Thảo cho biết ở nhà không sẵn bát đũa, lại không thể làm cơm ngon thết khách. Tốt hơn hết, mời đàn anh ra hiệu. Nhưng vấn đề tiền, làm sao bây giờ? Gia đình công chức hạng C như tôi, nói đến khách, lại một lần nhăn mặt. Mỗi khi con ốm, còn khổ sở về tiền nong, huống hồ chi nói đến tiền đãi khách. Xẻn lắm, tàm tạm cũng phải hàng ngàn đồng. Thảo nói mát với tôi: “Anh hiếu khách quá, anh còn lạ gì tình cảnh nhà mình! Thôi, anh để cho em đi cầm đôi kiềng mới có tiền mời khách được”. Tôi bảo nhà tôi rằng mới sanh nở được ít lâu, làm sao mà ra phố? Nhưng Thảo nói là đi được, không sao! Tôi thương vợ tôi hết sức, rồi tôi ra nhà ngoài tiếp khách. Nói qua loa về hoàn cảnh công chức cho đàn anh nghe. Những nỗi khổ sở nheo nhóc của tôi. Hạng công chức với đồng lương thấp nhất. Nhà tôi mới sanh, lại càng eo óc mệt nhọc. Nhưng bỗng nhiên Kinh hỏi. Về việc Thảo sanh con trai hay gái? Khen Thảo có nết, có sắc. Khen thêm tôi tốt số lấy được Thảo. Anh hứa sẽ đề nghị cho tôi lên chức. Chẳng hạn như thăng ngạch, phải ráng lên, dầu sao có anh Cả và còn ảnh, bởi tôi vẫn là chỗ thâm tình từ xưa kia. Tôi cũng mừng thầm được vậy, còn gì bằng! Phen này anh em trong sở tha hồ nể tôi. Nào ông Thanh tra tới nhà ăn cơm, trong khi ấy từ chối bữa cơm của ông Trưởng ty. Con gà sống tức nhau tiếng gáy. Nên gáy liên hồi. Tôi như đã trả thù được nhiều oan ức từ xưa kia. Cho mình mất một tháng lương cũng xứng đáng. Tôi đã nghi ngờ về đàn anh một cách không chính đáng. Như ít tính tốt lại có thói trăng hoa. Song đàn anh bao giờ cũng rộng lượng, cho dầu dàn em nghi ngờ sai; mai sau hiểu, hối hận, càng quý anh hơn. Nhưng phải là thứ đàn anh có bản tính tốt thực sự. Anh Cả dạy thế, nói như Thánh Kinh. Như triết gia Khổng Phu Tử, như Chí sĩ. Tôi chỉ biết so sánh có vậy. Tôi gọi con Kim, người nhà đem nước trà lên mời khách. Tôi vào trong nhà mặc quần áo. Khi đang thắt cà-vạt, con Kim nhìn tôi như có điều gì muốn nói. Chẳng lẽ đàn anh đã giở trò gì rồi? Vô lý. Mà cũng có thể có lý lắm. Trông con Kim cứ như là miếng thịt mỡ, dứ trước miệng mèo đói. Nó lại có đôi má hồng từ ngày theo chúng tôi lên Đà Lạt này. Trông thật duyên dáng quý phái, chứ không phải Mari Sến tí nào. Nghĩa là chẳng có chút nào dáng dấp của một người làm. Nó giận anh chị nó, về ở với chúng tôi đấy chứ!
Chính tôi cũng nhiều lần định tòm tem, mỗi khi vợ đẻ. Một mình không sao ngủ được, với gió rét căm căm Đà Lạt xúi giục. Rồi nghĩ đến cảnh vợ eo óc, hàng xóm làm rùm beng lên, nhất là phải bị đuổi khỏi sở vì việc này; thì còn mặt mũi nào! Nên đành ôm gối ngủ mà trong lòng ray rứt, đớn đau.
Có tiếng nheo nhéo của con tôi réo mẹ về chợ. Tôi cầm tiền ra nhà khách mời đàn anh đi ăn. Bữa tiệc này kể ra là tiền mồ hôi, nước mắt của vợ tôi. Bây giờ tôi được hưởng bữa ăn ngon lành. Cùng với vị đàn anh sang trọng danh vọng, uy quyền tột bực. Đấy cũng là nhờ anh Cả. Chứ nếu không, tôi có tiền; cũng chẳng thể mời nổi ông Thanh tra đến dùng cơm, do tôi đài thọ. Hai chúng tôi lên phố. Tôi đưa đàn anh tới một quán cơm Tây, 26 đường Hoàng Diệu. Nổi tiếng ở Đà Lạt của những khách sành ăn. Tôi vào đề cho anh biết lai lịch quán kia như vậy. Nào là quán này chủ nhân là người bếp cũ của quan Toàn Quyền Đông Dương Decoux.
Tôi cũng muốn chủ nhân biết là tôi đang đi bên cạnh ông Thanh tra từ Sài Gòn tới. Và cũng muốn cho đàn anh biết, tôi thuộc loại nghệ sĩ sành ăn. Chẳng qua phải chịu sống với nghề công chức này, vì vợ, vì con. Chứ nếu không, tôi đã tung hê cái nghề khốn nạn này từ lâu rồi. Kinh thở dài thương hại tôi, anh hứa chuyến này về, sẽ đề nghị hàng đầu cho tôi thăng trật.
Kinh nói: “Chú biết tài anh mà. Anh có bao giờ nói phét. Nói sao làm vậy. Nhưng chú phải cho anh được điều anh muốn. Đêm Đà Lạt rét căm căm đầy thơ mộng ít ra mình cũng phải buông cương cho chính mình chứ!”. Tôi đáp: “Dạ thưa anh có, em sẽ đưa đàn anh tới quán Xóm Me Thái, nhất Đà Lạt về món ăn chơi”. Rồi nhân dịp sửa soạn nhiều chi tiết lạ cống hiến đàn anh. Đàn anh lại càng nghiêng cảm tình về phía tôi. Tôi thao thao bất tuyệt, kể cho đàn anh nghe những thú ăn chơi trên này. Những con người, những mưu lược. Những gì là phía sau cặp mắt sắc sâu của Thanh tra Trung ương. Cật, gan, tim, giái gà xào; rồi đến sốt chua ngọt đưa đẩy; nhiều cái gật đầu tán thành dễ dãi. Vì trong nghề đã lâu, lại khôn ngoan dùng tiểu xảo, nhưng cũng biết chặn đầu đuôi, như là double jeux của nhà trinh sát tài tình.
Để nếu anh không thanh trừng được viên Trưởng ty; ít ra, tôi cũng không bị đổi đi. Hay đúng hơn là bể nồi cơm. Quả như cổ nhân dạy, muốn nói với nhau điều gì khó khăn nhất; người đời hay dùng tiệc, vì chính lúc ngon miệng người ta dễ nhượng bộ nhau hơn. Đàn anh khen món ăn ngon và sau đó đưa anh đến quán Xóm Me Thái. Vẫn là nghề bán hàng trắng trá hình. Chỉ có người Bắc là chuyên viên tài tình nhất trong việc bán buôn nghề này.
Những đứa con gái mơn mởn lượn ra, lượn vào, trước mắt Kinh. Qua phản ánh từ chiếc cốc tràn bia 33. Say ngà ngà, muốn tìm đệm ngả lưng. Vẫn là chiến thuật cổ truyền. Các cụ dạy xưa; nay chúng tôi vẫn còn áp dụng. Đàn anh gật gù chỉ vào Y.: “Có sạch không em”. Tôi đáp: “Dạ thưa anh, em xin làm người dẫn đường. Anh cứ việc làm theo ý thích. Trọn đêm anh nhé!”. Tuy nói vậy, nhưng tôi thắt bụng nghĩ đến tiền. Hơn một ngàn đồng trong túi lúc nãy vợ đưa; tôi đã trả mấy trăm ngoài vào ăn rồi. Còn gần bảy trăm. Tôi lại còn muốn dành cho vợ tôi đôi ba trăm đi chợ. Nhưng nghĩ đến sự trả thù Châu, trả thù viên Trưởng ty; tôi bấm bụng để lộ ra nụ cười bất cần gì đời, tiền có là cái gì đâu! Đàn anh gặng hỏi tôi, anh chỉ muốn ở lại đây chốc lát thôi. Vì anh sợ tai tiếng; nếu có chuyện chẳng lành xảy đến. Hơn nữa, anh còn muốn về nhà tôi ngủ; từ lúc nãy anh chưa kịp hỏi thăm Thảo. Lại thêm một hân hạnh, tôi nói ngay với anh như thế. Nhưng nếu anh không chê nhà em nghèo, còn gì vinh hạnh cho bằng! Anh gật đầu và cho tôi biết, sống với nhau căn cứ trên chữ tình. Chứ không là giàu sang, danh vọng và tiền bạc. Những thứ kia chỉ là thêm thắt. Nghe anh nói, thật như cởi mở được nỗi lòng. Tôi ở ngoài đợi anh, trong khi anh tìm một đôi phút thú vui. Tôi quên bẵng mình, qua tiếng nhạc và âm thanh hỗn tạp. Nhưng tôi chẳng thể nào quên được hình ảnh, nếu đàn anh không can thiệp được, tôi phải ra đi. Mà như thế sẽ mất mặt hết, vợ con lại phải gửi nơi ông nhạc ở Phi Nôm. Mình sẽ phải nhường chỗ cho Hoài, người mới có thế lực. Trong ngành công chức, tôi còn bị chèn ép lại chịu nhiều bất công; nói làm chi đến dân chúng, người ngoại cuộc. Bây giờ tôi mới thương dân chúng. Song hơi muộn; chỉ bây giờ tôi mới biết đến làm dân là chịu trăm cay nghìn cực. Lúc này đàn anh thất thểu đi ra, vẫn là sau khi mình để lại những giọt trăng hoa ân tình! Nét hào hoa phong nhã đã gửi vào hư vô. Hư vô bạn hỏi tôi nghĩa là gì, tôi xin chịu chết không biết. Chỉ biết hư vô cái hư không, cái hào hoa của mình đổ vào chỗ bàng bạc nào của đất trời. Để còn lại trên thân, hình hài mình những nét tiều tụy mệt mỏi rã rời!
Chúng tôi ra về. Giờ thì anh ít nói hơn lúc ra đi. Khen Đà Lạt lắm thú vui. Những rét ngọt gây thêm hứng thú. Sài Gòn không có. Hai anh em chúng tôi về đến nhà. Mọi người đã đi ngủ. Đà Lạt đóng cửa sớm. Vì không hoàn toàn là thành phố ăn chơi cả. Tôi đưa khoá mở cửa. Mời đàn anh vào nhà. Không có dư lấy một bộ quần áo ngủ. Mấy đứa con, hằng đêm, quen ngủ với bố; nay phải di dân sang ngủ với mẹ nó và Kim. Vì tôi đã dặn vợ để dành một giường riêng: anh và tôi ngủ. Lại một lần nữa, phải xin lỗi đàn anh về sự nghèo nàn của mình. Anh chỉ gạt đi và bảo rằng, anh em phải căn cứ trên tình và nghĩa. Tôi nằm phía trong. Đàn anh nằm ngoài. Chúng tôi hàn huyên, một vài câu chuyện bâng quơ, đàn anh ngủ trước. Tôi say rượu chát, ngủ say sau đó. Trước đó, tôi dăn anh chỗ cầu tiêu. Phòng lúc ban đêm cần đến.
Ông Thanh tra rời Cao Nguyên yêu mến trở về Sài Gòn bằng chuyến bay thường lệ rồi. Chiều hôm ấy, ở sở về; tôi đã nhận thấy sự bực dọc mà ông Trưởng ty đối xử với tôi. Lại còn thêm cả vẻ ủ dột mà vợ tôi biểu lộ nữa. Thực lắm cái bực mình! Còn gì giận chán hơn, là nét mặt sưng xỉa của vợ con, sau mỗi lần ở sở về. Nàng chẳng biết cái nhục nhã cho tôi thì thôi; chứ lại bắt phải chịu thêm dằn vặt từ gia đình đưa đến. Tôi mơ đến những ngày còn độc thân. Cố bươi lại cái thuở yêu nhau đẹp như bao giờ. Đà Lạt rét. Khách sạn. Hành lang. Bóng tối, Thảo và tôi thủ thỉ. Tôi học lóm được một vài câu văn trong tiểu thuyết. Để nói với nàng: “Em là quả đào độ chín trên cành. Không hái thì cũng chịu số phận đào thải của thiên nhiên. Rụng xuống chân cây. Mà nếu không rơi trên đất thịt, chẳng hạn thế. Nếu trên mỏm đá, làm sao mọc mầm. Như vậy sẽ tiêu tan”. Giữa lúc đó, tôi thấy Thảo gục đầu vào vai tôi. Đêm ấy chúng tôi làm lễ cưới cho nhau. Trước khi anh Cả và cuộc đời làm lễ hôn phối chính thức. Nghĩ gì thì nghĩ, chẳng sao vơi được nỗi buồn bực bây giờ đang bốc lửa! Nóng bừng bừng vì: cái lão Thanh tra đàn anh của anh về rồi à? Của nợ. Toàn là chuyện nhảm nhí. Anh tưởng chừng nhờ hắn mà anh lên mặt với nha sở và vợ con? Thế có nghĩa gì? Vợ tôi kể lại trọn vẹn sự khuấy động của ông Thanh tra. Nàng đang thiêm thiếp ngủ, có tay người rờ. Tiếng nói nho nhỏ: “Anh đây mà Thảo. Anh còn nhớ em chứ, mà em không hay biết. Và em đi lấy chồng. Để anh ngẩn ngơ tiếc nhớ. Ngàn năm một thuở. Bây giờ gặp lại em”. Nàng sống như trong cơn mơ. Và không ai lại thỏa thuận hay chống đối mình trong cơn mơ bao giờ. Thảo quên mất mơ mộng, là cái gì nàng không được sống với cuộc đời thực tế. Những cái bấu chí tiếp theo sau thức tỉnh nàng quay về sự thực: “Anh là ai?” – “ Kinh đây mà em. Em quên anh rồi sao?”
“Anh Kinh vào đây làm gì?”. Ý nghĩ của nàng biết là Kinh vào làm gì rồi, Thảo là thứ đàn bà hiền lành. Không muốn làm mất lòng ai bao giờ; ngay từ khi còn con gái. Cũng may lấy chồng sớm. Chứ không, thứ con gái dễ tính, chỉ khổ cho thân, cho xác. Kẻ gây hậu họa đi xa, mây gió đuổi theo không sao kịp. Người lữ hành đàn ông muôn thuở vẫn đểu như vậy. Tôi bắt đầu nghe về phản ứng bực bội. Thế ra Kinh đã mò mẫm vô giường vợ tôi: “có chồng thì mặc có chồng. Sẵn duyên anh cứ bế bồng trên tay”. Thế mà đàn anh dám bảo muốn gặp Thảo, là muốn sống với anh Cả và đàn em của anh Cả về cái tình nghĩa. Những người làm chính trị thường có nhiều thủ đoạn. Anh Cả đấy. Nói đùa như nói thật. Nói thật như nói đùa. Có lần anh Cả kể một chuyện mai mỉa về đời sống chính trị của một người mang biệt danh Ngựa Rùa. Ông ta thường bô bô rằng “nó là người của mình, thằng kia do mình tạo ra nó, nó là đàn em. Tả khuynh, hữu bật, mình đều có anh em: họ đều là người của mình”.Nhưng anh Cả kể tiếp: “Nhưng đau đớn thay vợ của mình, vợ mình là người thân tín nhất của mình chứ gì? Vậy phải là người của mình mới hợp lý. Hợp lý và chính đáng. Người quốc gia chân chính tất nhiên phải yêu dân tộc. Vậy thì phải bảo vệ hữu sản hoá của riêng mình. Hợp lý mà lại hợp tình, hợp cảnh nữa. Nhưng đau đớn và nhục nhã thay cho người quốc gia chân chính kia, một lòng vì tổ quốc Việt Nam mến yêu đó, đã để rơi một vật quý báu nhất trong đời. Đó là câu: “tả khuynh hữu bật, mình đều có anh em, họ đều là người của mình. Nhưng vẫn dùng hai chữ đau đớn thay, vợ mình lại không là của riêng mình, mà lại là của chung, giữa mình và một Tây đực. Vì Tây đực có nhiều tài vặt giao du với người đẹp. Nên vợ chàng ta không còn là của chàng ta”. Nghĩ lại câu chuyện anh Cả kể, tôi thấy đau đớn gì gì đó! Tôi không làm chính trị. Chỉ là một nghệ sĩ tài ba không nhiều. Là người bình thường, có đôi chút ý thức. Vậy: vợ phải là của mình. Sao lại không được quyền ghen giận? Tôi hỏi dồn Thảo về câu chuyện ngoại giao bóng tối của Kinh. Cũng là người quốc gia chân chính nhưng thiếu đại nghĩa.
Vậy người quốc gia chân chính có đại nghĩa là thế nào? Kinh sách và kinh sách đã dẫn giải trong mục học làm người của cổ nhân. Vậy một người quốc gia chân chính; còn là chính trị gia, đàn anh của tôi; sao lại có thể làm mất đại nghĩa được! Nàng trả lời. Cũng còn sợ tôi làm mất lòng đàn anh. Đàn anh đang định nâng đỡ cho tôi lên trật. Lại mắc kẹt một chuyện không đâu; có thể làm hại cho việc thăng ngạch trật của chồng. Tôi nổi nóng. Một cách tàn nhẫn: “Anh không cần nó. Nó là quân mất dạy, vô liêm sỉ. Em kể cho tôi nghe rõ đầu đuôi”. Nàng vẫn bình thản. Của một loại đàn bà dẻo dai chịu đựng. Nàng mới qua kỳ sinh nở, cho có ý muốn làm đẹp lòng đàn anh, cũng không ai chấp nhận. “Em là con đĩ hay sao?” – “Sao anh lại nói vậy?”. Câu chuyện này không kéo dài nữa. Tôi bỏ ra phố. Giận mình, giận đời, chán ghét tất cả. Con người mang tiếng văn minh; nhưng dã man và đểu cáng; còn chưa được bằng giống vật! Hai hôm sau, tôi mới rõ sự liên hệ này chỉ xảy ra giữa Kinh và Kim.
Cùng vần K, nên muốn tìm gần nhau. Kim chối rằng Kinh không ngủ được với nó. Sau vợ tôi cho biết: thời gian Kinh đến với Kim sau khi bỏ giường Thảo. Chờ một giấc ngủ đợt hai. Con Kim đã cho Kinh chung chăn gối thì phải. Thêm lời hứa hẹn làm vợ hai cho nhiều tiền. Nhưng con Kim phát giác, việc làm vợ hai của Kinh xa vời quá. Còn cho tiền thì người quốc gia chân chính lại quên! Qua đò quên tình nghĩa, cả tiền tài lẫn kinh phí qua sông.
Còn tôi làm việc tại Ty, lại bị Châu nhìn bằng con mắt khác. Thêm vào những lời nhiếc móc xa xôi, mai mỉa, khích bác. Rồi ra tôi sẽ làm dưới quyền xếp. Tôi biết rằng anh nhiều tài, lần này cấp trên sẽ không quên anh. Anh sẽ làm lớn, tôi biết mà, ở lâu mới biết lòng người. Đại để là vậy. Nhưng trong khoảng thời gian sau, tôi lại rục rịch bị đổi lên Pleiku nữa rồi. Người thay chỗ tôi vẫn là Hoài. Tôi buồn khổ sở vô hạn, vẫn nói dối vợ con. Rằng nhiều anh em, bè bạn. Ở Sài Gòn, thì chúng nó chết. Chỉ cần một lời thở than thôi. Bao nhiêu là thằng giúp đỡ. Tôi lừa dối chính bản thân, để có một ảo tưởng mà sống với đời.
Kiếp này, có nên tu tỉnh; còn cầu mong được làm người ở kiếp sau? Con người hơn con vật biết suy tưởng. Phải giữ nhân vị, triết lý chính trị tam túc tam giác gì đó. Phải học tập chính trị để giữ nhân vị của mình. Nhưng học mà nhận lấy sự chà đạp nhiều hơn thì đau đớn quá! Giá tôi không mời viên Thanh tra Trung ương đến nhà ăn cơm, đâu nào đến nỗi này! Tôi xin phép về Sài Gòn, nhưng Trưởng ty không chấp thuận. Sợ tôi có nhiều anh em trong Tổng Nha; vịn vào cớ công tác của tôi còn bề bộn không chấp thuận cấp phép. Tôi trình bày với vợ tôi như vậy. Nàng chẳng tham gia ý  kiến cho rằng trong câu chuyện đề cao tôi có lố bịch hay bịp bợm, vẫn quý mến tôi như thế. Trông đàn con nựng bố khi ở Ty về là một lần tôi có cảm giác như kim đang xâm vào tim.
Tôi sẽ phải xa chúng nó. Đến miền xa xôi của đất đỏ muôn ngàn buồn thảm. Với số lương chia hai; chồng một nơi, vợ một ngả, làm sao đủ sống. Người quốc gia chân chính là đàn anh của tôi, không sao biết chuyện đau đớn này. Buồn chán tôi chỉ còn cách tìm quên trong chén rượu. Ở cái thị trấn cỏn con này; ai đến, ai đi, làm sao mà giấu được! Nhà rửa ảnh Mỹ Dân đòi tiền tôi mua chịu phim. Bà chủ quán cháo gà Đoàn thị Điểm đòi tiền thiếu, của mỗi chiều tôi làm bạn với 33, với gà luộc, xôi gà, miến gà. Con số của quán này đã lên khá cao. Hai tháng lương gộp lại chưa đủ trả. Chắc chắn, tôi chưa thể đem vợ con gửi ông nhạc ở Phi Nôm, hay để lại ở Đà Lạt, làm con tin món nợ của tôi trước đã? Lại thêm một chuyện đớn đau.
Làm người như tôi chưa chắc gì sướng hơn con vật! Đã có lần ý nghĩ mỉa mai trên đến ám ảnh tôi hoài hoài. Từ ngày Pháp còn ở trên đất này. Kiếp sau, tôi xin làm con bẹc-giê của viên chủ giàu có tiền bạc và quyền thế. Tôi sẽ được ăn sung sướng lại được mọi người bản xứ vì nể. Nể thần, nên cây đa được kính trọng. Chiều thứ bảy, những giằng xé tôi, của anh công chức hạng C. Tôi đã đổi căm giận vào tốc độ của chiếc mô tô cũ. Lăn trên đường tìm an ủi và lãng quên. Khúc quẹo chợ mới Đà Lạt. Đến khu chợ cũ Hoà Bình. Gặp ngay thằng bạn ở Sài Gòn. Ăn vận quần áo chỉnh tề, bảnh bao; trông nó, tôi có cảm tưởng như nó có nhiều quyền thế. Có lẽ trong tôi bây giờ, chỉ cần quyền thế, chỉ có uy lực; mới cứu vãn được hoàn cảnh bế tắc của mình. Thật ra là nó cũng không còn nhớ tên tôi cả tôi cũng chẳng còn nhớ tên nó. Nhưng nhớ từng bạn với nó từ ngày tôi còn là Chủ sự ở Sài Gòn. Nó nhớ tôi vì ảnh thời sự và truyện làm bản kẽm không tốn tiền. Nhớ rồi. Chính nó. Tôi đã đưa nó đi tìm thú vui trăng hoa. Thuở Ngã Năm Thành Cổ Loa vào thời hoàng kim. Tôi đã đưa nó về nhà tôi ở một ngõ hẻm Hiền Vương. Tôi hỏi nó lên đây làm gì? Nó lơ lửng trả lời không dứt khoát. Lối nói lưng chừng của khách du lịch lên viếng Đà Lạt. Tôi hỏi qua loa về nghề mà nó hiện theo đuổi. Làm Báo. Nó trả lời cụt ngủn. Tôi mời nó về nhà tôi cho biết. Nó từ chối. Có lẽ đây là một dịp may chăng? Quý nhân phù trợ. Như trong tử vi của báo hàng ngày dạy. Khi đau khổ, có bạn, thật là may! Cứ cho rằng nó không giúp gì được mình nữa.
Tôi mời nó ăn cơm với vợ chồng tôi. Nó đáp rằng không dặn ở nhà. Muốn ăn cơm khách phải báo trước cho nhà biết. Một người cậu của nó ở trên này. Nó mời tôi đến quán cà phê, sau khi ở nhà tôi ra. Nó hào hoa, vì chưa vợ con. Tôi thèm được vào địa vị nó. Nó lại khen gia đình tôi êm ấm. Tôi bật nhớ tới lời Kinh khen và hành động của Kinh để lại không tốt đẹp trong gia đình. Để hôm nay tôi chịu hoàn toàn hậu quả. Đem trường hợp của tôi ra trình bày với nó. Nó không hứa giúp gì. Và chỉ nói làm công chức hạng C khó hơn gấp bội lần cấp cao. Mọi việc phải biết hết lại chịu đựng. Nghĩa là cần nhiều tài tiểu xảo. Hơn cả nột công chức cao. Nó nhắc đến trường hợp ông đổng lý Cù, còn kiêm thêm nghề soạn thơ. Một lối giải thoát tâm tưởng khai thác quyền uy bán sách. Chết cha tôi rồi, nó đả kích một nhân vật chú vợ tôi. Tối hôm ấy, về nhà ăn cơm, sau khi đã giới thiệu tên cho nhau rồi; anh Thoa (nhà báo) cho biết về đổng lý Cù. Vậy phải bàn với vợ tôi nhờ ông can thiệp. Tối nay tôi gặp lại Thoa. Nó làm báo bênh vực những người thấp cổ bé miệng. Đúng như trong tử vi dạy, đã có quý nhân phù trợ. Một người bạn từ lâu không gặp, nay đến với tôi trong lúc tôi nguy khốn. Ăn cơm tối xong, tôi đem máy ảnh theo. Một vài tấm ảnh chụp kỷ niệm cho nó. Lấy tình cảm. Người Đông phương chúng tôi quý nhau, qua những món quà lót tay không đáng kể; mà lại rất đáng kể ở phía đoạt cảm tình. Rồi từ đó trở thành thân mật, nhờ nhau, sẵn sàng chỉ bảo cho nhau. Tôi lại mời nó ăn cơm vào trưa mai. Cổ nhân dạy miếng ăn dễ nói được nhiều chuyện khó nói.
Tôi lại đem ra áp dụng. Tâm trạng tôi lúc này như trẻ con. Mừng rỡ và nhiều hy vọng. Sự ở lại của tôi sẽ làm cho Trưởng ty và viên xếp nhỏ của nó biết tay.
Gặp Thoa vào tối nay, tôi sẽ hỏi thẳng ý kiến. Bây giờ tôi hiểu vai trò cố vấn của nhà báo. Dân chúng hằng tin cậy; mỗi khi bị chính quyền làm khó dễ, hoặc oan ức chưa được phơi ra ánh sáng. Tôi đến nhà Thoa. Nó mặc quần áo xong. Tôi khấp khởi mừng thầm; vì ngay từ lúc gặp gỡ ban chiều, chúng tôi vẫn xưng hô mày, tao. Nhắc lại viên đổng lý làm nghề vẽ chữ, gọi thơ, tên là Cù. Hắn là chú vợ, Thảo. Ông nhạc của Nguyện (tên thật của tôi) viết cho Cù càng tốt hơn. Thoa không thể giúp đỡ gì cho Nguyện, ngoài ý kiến. Lẽ giữa Cù và Thoa quen biết lại không hợp nhau. Cù là người nhiều quyền hành, hiện đương là phó Đổng lý, chuyên viết diễn văn cho Tổng thống. Một cú điện thoại cho đàn em Tổng giám đốc Thông tin, văn sĩ Tạo. Thế nào Nguyện cũng được ở lại; với điều kiện đừng khai Thoa cho Nguyện ý kiến. Giữa Thoa, Cù, không thiện cảm với nhau. Về tư tưởng thơ văn cũng như quan niệm sống. Một tên phó đổng lý viết diễn văn, làm nghề vẽ chữ gọi là thơ; lại bán tác phẩm của mình, bằng cách khấu trừ vào lương công chức thuộc hạ, bắt mua những cuốn sách in ốp-xét giá đắt thật là cướp cơm chim! Viên tỉnh trưởng nào mà chả phải cổ động trong quận hạt của mình mua sách ông phó đổng lý Đoàn Cù?
Ông ta từng viết diễn văn cho Ngô tổng thống. Đáng lý ra Thoa không nên ăn cơm trưa mai với Nguyện. Lẽ ra có nhiều cái khó nói ra.
Tôi hơi giận Thoa; nhưng thừa nhận ý kiến của nó. Tôi chụp ảnh cho nó, hứa sẽ phóng tấm nào đẹp. Một lối gây cảm tình của công chức hạng C như tôi; chỉ biết làm có vậy. Tôi mời nó xuống Phi Nôm nơi ông nhạc tôi ở. Trình bày ý kiến mà Thoa cho. Rất có lợi cho bố con chúng tôi gần nhau. Nhưng Thoa từ chối. Tôi cố mời nó về nhà ngủ. Không hiểu sao tôi lại nẩy ra ý kiến này; từ khi nó từ chối xuống Phi Nôm. Tôi nhắc nó về Kim và về Kinh. Nó biết cả Kinh. Thằng cha ấy chỉ gái, tiền và nịnh cấp trên là giỏi. Kim đẹp đấy chứ, trông hấp dẫn ghê! Qua quần huyền u uất che thân người lại xảy ra dưới ánh đèn ngủ ban đêm với trời giá lạnh Đà Lạt; làm sao mà Kinh không chết! Tôi bảo nó thích Kim, tôi sẽ làm mối cho. Kim là em Thảo. Thoa lại chưa có vợ. Nó im lặng. Con Kim bây giờ nhận là em tôi, và cũng cần kiếm một tấm chồng. Khi Thoa tới nhà, con bé đã đam mê ngay, vì Kim đã từng đọc truyện của nó trên báo. Cả một sự vui mừng, vì tác giả nhà báo kia lại chưa có vợ. Chẳng hiểu sao Kim lại tin chuyện này thực. Thiếu gì đàn ông tuổi nó, nói là chưa vợ thì Kim bĩu môi. Nhưng với Thoa, Kim lại tin. Tôi sẽ mời Thoa ngủ lại và một khi, giữa hai chúng nó chịu chuyện nhau; tất sẽ giúp đỡ tôi việc này. Nó quen nhiều, tuy nó không nói hẳn ra vậy. Nhưng tôi đã dò hỏi thì được biết nhà báo gióng cho một vài lời, việc gì mà chẳng xong. Huống hồ là chuyện này, hủy sự vụ lệnh cho công chức hạng C. muốn ở lại Đà Lạt là chuyện dễ dàng. Tôi bèn xin phép nó trở về nhà có chút việc. Nó ngồi ở quán cà phê đợi tôi. Tôi về nhà bàn với vợ sắp đặt công chuyện.
Khi tôi trở lại, tôi đưa Kim đến với tôi. Hai đứa chúng nó bắt chuyện với nhau rồi. Tôi có thể thành công trong công việc giương sẵn kế hoạch. Tối nay tôi sẽ mời nó ngủ lại nhà. Tôi sẽ coi như là mình ngủ say, để chúng nó tự do tình tự. Và như thế, nó sẽ giúp tôi đưa thư cho Đoàn Cù và nói thêm vài lời can thiệp với ông Tổng giám đốc văn sĩ Tạo. Như thế, tôi sẽ cứu nguy được tình trạng bế tắc. Tôi sẽ được ở lại Đà Lạt. Viên Trưởng ty và xếp nhỏ của tôi, sẽ thộn người ra mà thán phục! Khi tôi nghe thấy Kim tán tụng truyện dài của Thoa đăng trên báo, tôi càng mừng thầm. Kim ăn vận vào, trông không kém một phu nhân đài các. Dưới ánh đèn, má hồng của Kim đẹp hẳn lên. Những duyên của con gái mới chỉ biết vài lần làm tình ái lại càng mặn nồng; càng làm cho đàn ông ham thích. Đó là cảm quan của một nghệ sĩ nhiếp ảnh như tôi, cho là vậy.
Kế hoạch của tôi dường như thành công. Vì tôi đã nhờ Thảo xếp đặt. Tất nhiên trong tôi, sự mừng khấp khởi, dấy động. Tôi đưa ra những mưu chước; lần này, chúng tôi phải đi chơi, uống qua nhiều quán ở Đà Lạt; những quán nước, phòng trà, thú vui giải khuây là tao nhã nhất của du khách. Người nghệ sĩ nào có tâm hồn mà chẳng đồng ý với lời đề nghị này. Chúng tôi liên tiếp ngồi trong nhiều quán khác nhau. Hai người đi với nhau còn tôi phải dẫn tay chiếc mô tô. Cái kế hoạch là vậy, thật ra ở Đà Lạt có bao giờ sợ mất cắp xe đâu? Tôi đã hứa với họ tới một quán cà phê, dốc Minh Mạng. Nơi mà Thoa cho là thú nhất, nhìn đúng tầm mắt đến dốc, nhất là trời mưa đem lại nhiều cảm giác mờ ảo. Vẫn chỗ ngồi mà Thoa hằng ưa; ở trên dốc, một căn nhà có bao lơn nhếch ra đường thấp thoáng sau mành có bóng hồng. Tay đang cầm cuộn len đan. Tôi liếc mắt nhìn hai người. Họ như có vẻ tương đắc lắm. Một khi Thoa có thế lực mà nó lại giấu tôi. Chẳng bù cho Kinh thường hứa những điều ngoài sức mình có.
Buổi tối Cao Nguyên có sương đêm, quả là thơ mộng! Chỉ có đêm nay, tôi mới cảm thấy đẹp. Thì ra bao nhiêu lần; tôi bị chìm vào sự lo lắng, làm sao mà cảm thấy đẹp.
Đẹp toát từ nội tâm phải hòa hợp với ngoại cảnh. Hai người vẫn đi bên nhau; thấy họ tốt đôi quá. Có lẽ định mệnh thật. Lập gia đình cũng do thiên mệnh dự liệu. Như tôi chẳng hạn có bao giờ nghĩ rằng lấy vợ sớm thế đâu? Nay đã mấy con rồi. Ông bà nội của chúng chẳng bao giờ biết mặt. Khi tôi đến quán, hai người ngồi hai bên nhau rất tốt đôi. Trong một bàn, hai ly cà phê đặc biệt; thực là đẹp cho đôi chồng vợ. Như sau một đêm, sáng hôm sau; hai người ngồi uống cà phê nhấm nháp hương vị hạnh phúc. Tự dưng, tôi trở thành một nghệ sĩ giàu cảm quan nghệ sĩ. Tôi đến Thoa gọi sẵn cho một chai 33 lạnh, nó biết tính tôi; như tôi biết tính nó, thích đàn bà loại như Kim. Ngay từ bây giờ, tôi muốn say sưa, để hai kẻ tự do tình tự: “Ôi ! Tên bạn thân mến kia ơi! Mi hãy hưởng nốt cho ta cái tình yêu mà ta vội vàng thụ hưởng, trong sự hứng khởi của mi, ta có dự phần trong đó”. Kể ra, tôi cũng có thể làm văn sĩ được đấy chứ. Nhìn đồng hồ, 11 giờ 30 đêm. Lòng thêm hứng thú. Chúng nó chịu nhau rồi. Hãy trông kia, nụ cười của Kim như đang nở trên môi Thoa. Tôi bảo Thoa về nhà tôi ngủ, để hàn huyên, trò chuyện và xem tôi rửa hình cho nó một thể. Tôi rửa những tấm hình vừa thu vào ống kính. Sáng hôm sau, bá cáo lại từ nơi Kim. Kim có lại giường Thoa, gọi nó dậy để tâm sự. Nó từ chối. Tình ái đến sớm sẽ chóng phai, không chứng tỏ sự chung tình. Những nỗi buồn lại đến, thay cho niềm vui hụt đêm qua. Công việc của chúng tôi như vậy, không thành tựu sao? Cảnh chia rẽ của gia đình tôi vẫn như còn quanh quất đâu đây? Tôi và vợ con tôi chưa thể nào nuôi mộng ở gần nhau. Thằng Thoa rất bướng. Kim không dụ dỗ được, huống hồ tôi; làm sao có đủ yếu tố bắt nó giúp tôi. Tôi đã nhờ ông nhạc viết thư cho đổng lý Đoàn Cù. Làm sao nhờ nó đem thư về và nói thêm với ông Tổng cho. Tôi đến nhà cậu của Thoa, thì nó đang ngủ. Mấy đứa em gọi nó dậy. Trông thấy vóc nó, tôi đoán được ngay rằng không mấy có kết quả. Hai chúng tôi rủ nhau đi xuống ven hồ. Nó vào đề bằng một câu nói độc địa: “Đáng lẽ tao không nhận ảnh mày chụp cho. Mày lừa tao. Mày là thằng đểu. Từ nay đừng nhìn mặt tao. Tao rất ghét những thằng bạn đi qua mặt tao, mà nó tưởng chừng tao không thấy”. Tôi im lặng chịu trận. Mặt tôi ửng đỏ vì tức giận. Nó đòi xuống xe và tôi trở về nhà. Sau khi ngồi bên hồ Xuân Hương, với căm giận, không bật thành lời.
Tôi vào quán đêm qua, nơi cả ba cùng ngồi. Gọi rượu mạnh. Sau khi uống nhiều 33 ở một quán khác. Trong túi tôi sẵn khẩu Colt. Tôi cần đến để giải quyết công việc. Ngay đêm nay. Không thể kéo dài được! Tôi không thể bị đổi đi Pleiku. Tôi không chịu nổi sự uất ức mà mọi người xung quanh sỉ vả, nhiếc móc. Ở Ty, họ nhìn tôi qua con mắt khinh khi. Rồi đến hàng xóm, dường như họ biết hết mọi chuyện nhanh chóng đến thế! Tôi làm sao còn đủ can đảm  sống, nhìn họ ở xung quanh mình. Lừa chết để da, người chết để tiếng. Tôi để lại tiếng xấu nhơ nhớp.
Thằng Châu, con Lan, chúng nó là con tôi đem chuyện này từ trường về kể cho bố nghe. Và những chủ nợ liên tiếp đến nhà tôi đòi tiền. Sự vụ lệnh cấp bách buộc đi. Trong ba hôm, đương sự phải có mặt tại Pleiku. Phương tiện chuyển vận do đương sự tự túc. Chữ ký của ông Phó tỉnh. Còn một thằng bạn cố vấn duy nhất, nó cũng khinh miệt nốt.
Cô bé chiêu đãi viên bưng ly rượu mạnh ra bàn tôi; nghi ngờ tôi say, nên không dám lại gần. Tôi gọi lại. Lảng tránh. Đúng rồi, nụ cười mai mỉa của nó phát ra, làm vài thanh niên bàn khác cười rộ. Tôi gọi nó thêm một tiếng lại bỏ chạy vào nhà trong. Tôi gọi thật lớn. Bà chủ đi ra. Bà chủ bảo hãy về nhà ngủ. Tôi say rồi. Bà không tính tiền đâu mà lo. Rõ ràng nhé. Tất cả coi tôi như không có trên mặt đất này. Như vậy, tôi còn sống làm gì cho nhục! Loạng choạng đứng dậy, hét lên một tiếng thật to và rút súng ra. Mọi người im lặng. Nhạc bắt đầu tắt. Cơ khí cũng còn uy lực, hiệu nghiệm hơn thằng tôi. Bây giờ sự im lặng sợ sệt, là chứng cớ thật hùng hồn. Đó là uy lực súng đạn. Chứ thằng người như tôi vô giá trị. Khách hàng lúc trước có sợ tôi đâu, nhưng bây giờ, chúng đều như hình nộm cả. Tôi bảo gì, chúng nó sẽ phải nghe theo. Rõ ràng nhé. Súng đạn còn có uy lực mầu nhiệm; tôi không giá trị bằng một cục sắt. Chưa bao giờ thấy mình đáng làm người hơn lúc này. Từ khi cha mẹ sinh ra, năm nay ngoài ba mươi tuổi, mới biết. Chúng mày thôi rồi, không bao giờ còn khinh rẻ được tao! Họng súng đen ngòm vẫn chĩa ra phía khách hàng cười lúc nãy. Bà chủ cùng chiêu đãi viên lấm lét nhìn theo tôi. Nhưng lát sau, cái gì lạnh buốt từ sau lưng tôi đẩy mạnh lại, và tiếng hô của ai từ sau hô bỏ súng xuống, giơ tay lên. Những cái tát nổ đom đóm mắt bắt đầu chiếu hào quang xung quanh tôi. Chiếc Colt rớt xuống; tôi bị khóa tay, bị đánh ngất bởi cảnh sát, tôi không còn biết gì nữa!
Khi đảo chính thành công vào cuối năm 63, tôi ra tù. Và theo như vợ kể thì Thoa đã đưa thư cho viên đổng lý rồi. Đến nay tôi ở lại đây không phải đổi đi. Châu bị gọi về Trung ưong, lý do nhân viên lạm dụng quyền thế bị thải hồi.
Còn Trưởng ty bị câu lưu, sau hôm đảo chính, lý do dễ hiểu: đảng viên thân tín của Cậu Sáu Miền Trung. Nhân viên kinh tài cho đảng Cần Lao. Tôi được tha, vì đã chống chế độ cũ. Từ đấy, mỗi chiều thứ bảy ra phố; nhưng để ý đến du khách lên Đà Lạt, chưa gặp Thoa. Nếu gặp nó, tôi cảm ơn. Rất mong vóc dáng anh chàng nhà báo hôm nào, một ân nhân và cố vấn của tôi. Bây giờ gặp lại Thoa; tôi sẽ mời hắn dùng cơm với vợ chồng tôi; mời đi phòng trà – nhưng là sự thành khẩn của bạn bè quý nhau; chứ không sắp đặt với nhiều ẩn ý trục lợi như hôm nào! ([12])


b ố n

T
6 ngủ dậy, không thấy vợ con đâu, chàng choáng váng gọi lớn:
- Thủy, em ở đâu?
Chàng ra bàn ăn, thấy lá thư có mấy hàng chữ:
“Anh Sáu. Em và con đi Đà Lạt đổi gió. Nếu gió trên cao nguyên này hợp với mẹ con em, thì sẽ không về nữa. Anh tha thứ cho sự ra đi đường đột này. Em. Ngày... tháng ...năm...
T6 tá hoả tam tinh, lấy xe đạp đi tìm Dũng trắng, một trong những bạn thân của chàng không có trong vần T... Dũng trắng cấp tiền cho bạn khá nhiều, hơn cả T1 luật sư. Thằng này ngũ đoản ăn nói giỏi, lý sự cừ, và cãi khỏi chê. Nhưng chi tiền cho T6 hẳn không bằng Dũng trắng. T1 còn bố mẹ già, các em đông, hiện nay mới chỉ một T1 là có danh và tiền bạc mà thôi. Gặp Dũng trắng, T6 đưa thư của Thủy, chờ ý kiến bạn:
- Nó theo bạn của thằng T3 văn sĩ rồi. Mấy hôm trước tao đi nhẩy ở Tự Do đã thấy vợ mày cặp kè với thằng Đinh Bù Loong.
- Sao mày gọi thằng chả là Đinh Bù Loong?
- Thằng Tây lai có nhiều bạc, lắm tiền, cao ráo, sạch sẽ. Nó họ Đinh, tao phết cho nó nickname([13]) Bù Loong.
- Bây giờ phải làm thế nào?
- Tao và mày lên trên ấy đón mẹ con Thủy về. Nhưng từ nay, mày phải nhớ điều này, tiền bạc cần lắm cho vợ con và phải có thường xuyên. Hay mày dạy thay tao ít giờ Anh văn vậy?
- Chuyện này hạ hồi phân giải. Bây giờ phải xoay tiền đã. Tao xuống ông anh bà chị tao kiếm một mớ. Kẹt một cái gia đình ông anh bà chị lại không chịu cho tao làm đám cưới với vợ tao, bởi vũ nữ còn độc hơn xướng ca vô loại – ông anh bà chị phán như thế!
- Buổi đầu tao thấy bà ấy đi làm trở lại, tao đã biết là nhiều chuyện sẽ xảy ra. Ngựa quen đường cũ, bà ấy còn đẹp sắc sảo, nhiều thằng chết mê mệt. Mày có nhớ thằng nhà văn diễm tình ăn khách trong giới trẻ, Huy Tuấn không? Thằng này đêm đêm, lái xe díp màu trắng đến Tự Do, chỉ chờ được nhảy với vợ mày mà thôi. Thằng này có sách bán chạy, con nhà giầu, đẹp trai, trẻ tuổi, ăn nói bắt mắt bắt hồn phụ nữ.
- Có phải Huy Tuấn trước đây trong nhóm Phong trào đòi Hoà bình, bị nhốt, không phải đưa ra Bắc, viết phơi-ơ-tông ăn khách và tiểu thuyết xuất bản quyển nào quyển ấy dầy cộm. Lại bán chạy nữa. Thằng T3 gọi nó là văn sĩ H. trong truyện ngắn Thủy và T6 viết phơi-ơ-tông trên báo Điện Ảnh ấy.
- Nhưng nguy hiểm hơn hết vẫn là Đinh Bù Loong, bây giờ nó đưa bả và con mày lên Đà Lạt, liệu bả có chịu về lại Sài Gòn không? Dũng trắng nói như gằn giọng. Chung qui cũng chỉ tại mày. Lần trước mày cho phép bả đi Đà Lạt bế con theo, nói là lên thăm chị Hoa trên ấy. Thằng T3 đến xin phép, mày đồng ý liền. Mày đọc cuốn tự-sự-kể của nó viết về mày và Thủy ra sao không?
Dũng đi đến kệ sách lục tìm cuốn sách vừa nói, lấy tay tìm đoạn nói về Thủy và T6. Dũng trắng đưa cho T6 và bảo:
- Mày đọc đi, lần trước, nó đi với T3 – bây giờ với Đinh bù Loong.
T6 cầm sách đọc:
- .....Trong vòng một năm nay, tôi không làm một bài thơ nào, viết một truyện nào. Lại còn đang buồn và không thú bằng cả đi săn. William Faulkner của những ngày trước khi sắp giã từ đời. Với danh vọng, tiền tài, với bấy nhiêu năm tháng trên đầu, câu nói kia của văn sĩ Hoa Kỳ, tất có lý. Tôi chưa già, nhưng hơn mười năm làm văn nghệ, bây giờ tôi chán rồi. Nên bạn bè hỏi tôi sao dạo này không viết sách, lại đi khiêu vũ thường trực hàng tháng ở Tự Do. Thì tôi bảo họ, đây, tôi kể cho bạn nghe câu chuyện văn chương này, chẳng thú hơn sáng tác sao?
Câu chuyện của hai cô vũ nữ, cô Ng. và cô Thủy, hai người được nhiều bàn mời nhất là kiếm nhiều tiền nhất. Cô mời tôi khiêu vũ đây là cô Ng. Tôi bảo tôi có vợ, chẳng có gì quan trọng phải không, lại tỏ ra mình trả lời không hợp cảnh. Có vợ thì anh ngủ với vợ anh, chứ đến đây làm gì? Nhưng tôi đến đây để tìm không khí xưa, âm nhạc, đèn màu, và mẹ đẻ văn chương. Vẫn muốn vậy, và vẫn muốn không thất hứa với vợ mình. Tôi được quyền tự do đi chơi, mấy giờ về, vợ tôi đều mở cửa. Nhưng chỉ có một điều là không được ôm ai vào trong tay, kể cả khiêu vũ. Tôi nhận lời. Nếu buổi nay tôi khiêu vũ với cô, như vậy tôi nói dối. Tôi không muốn dối vợ tôi và chính tôi. Kể cả việc nói dối là bịa ra một câu chuyện để nàng không biết việc kia và tự dối mình, cho dầu là không nói ra. Song tôi cũng ghét luôn đến người mặc áo đen vào sáng chủ nhật buộc tôi xưng tội.
Tôi cứ nhận tôi là người theo Thiên chúa giáo để cho Ng. là tín hữu thực thụ tôn trọng điều tôi nói hơn.
Một đêm thứ bảy, Ng bảo tôi hãy đưa nàng về sớm hơn một tiếng. Sau khi nàng bón cháo cho tôi ăn, lấy khăn cho tôi lau miệng (đêm thứ bảy, nhảy tới bốn giờ sáng và vũ nữ có cháo ăn đỡ lòng tại Tự Do), hai chúng tôi môi sát môi, đầu hai đứa ríu vào nhau, hạnh phúc biết mấy! Khiến cho bạn trẻ ngồi phiá sau ghen tuông, buông lời phản đối: “...nào Thế Phong mặc áo đại quan nhảy đầm nhé...”. Tôi theo lời nàng. Chúng tôi lên tắc xi. Khi gần tới rạp Quốc Thanh, nàng bảo tôi đây rồi và chúng tôi rời tắc xi, bước lên cầu thang. Ở ngoài có ánh điện, nhưng hành lang sâu thẳm, tối om. Đàn bà và bóng tối thú lắm. Nhưng với Ng. mười chín tuổi, lại có thêm ba năm học thoại kịch. Vào trường hợp này, nàng lại ngại ngùng bảo tôi, có thể về được rồi. Tôi không làm theo lời nàng. Nàng đành đi nép về một phía hành lang, tôi theo sau cũng tỏ ra mình nhút nhát, nép vào một phía. Qua hành lang thứ hai, cũng vẫn không đèn, tối om. Nàng lại bảo được rồi, cảm ơn. Tôi không chịu và nhất định đưa nàng tới buồng. Nàng cũng vẫn nép mình vào một phía len lén đi và tôi cũng nép mình như vậy, đủ cho nàng tin rằng tôi rất nhút nhát và kính trọng nàng rất mực. Khi đến hành lang thứ ba, đèn sáng, đến trước cửa phòng nàng rồi, tôi cúi đầu chào và xin phép ra về.
Ng. ngạc nhiên, gọi tôi lại. Cho biết đây là lần thứ hai, tối nay nàng sẽ không ngủ được, chị hai về quê, có lẽ nàng sẽ phải đọc sách, chứ làm gì cho tới sáng được! Tôi chưa biết nói sao, Ng bảo tôi đợi nàng mở cửa xem phòng nàng đã. Tôi chiều theo ý nàng. Cửa mở, chiếc giường trải nệm mousse, drap màu đỏ thật lộng lẫy, quyến rũ. Và lại là một vũ nữ nổi tiếng là nghiêm trang, đứng đắn – đã tặng bạn tôi, giáo sư dạy giờ tại Đại Học Văn Khoa, vì anh đã chạm vào ngực nàng, một cái tát nổ đom đóm mắt. Anh ta đau đớn, đến bàn tôi than thở. Tôi bảo anh, tôi chưa được đàn bà đánh mắng bao giờ, anh được Ng. tát, là hân hạnh mới phải chứ. Tôi còn nhớ đến chuyện này, khi đứng bên cạnh Ng. giờ này. Tôi khen phòng nàng đẹp và xin phép về, kẻo khuya quá, vợ tôi chờ. Ng. nhìn theo và bảo tôi trung thành với vợ quá, nàng thèm muốn sự trung thành kia.
Tôi về nhà, và buồn biết mấy khi bước ra đến ngoài đường. Tới nhà, lách cửa vào nhà. Cởi quần áo trong bóng tối lên giường nằm, ngửa mặt, khoanh tay trước ngực, nhìn lên đỉnh màn. Và những cái xoay mình thật khó chịu. Từ hôm ấy, tôi không trở lại vũ trường khiêu vũ nữa và anh bạn cùng đi cho biết: Ng. hỏi thăm tôi và sao vẫn chưa đem biếu nàng bó hoa Lys Đà Lạt? Vì tôi biết rằng hoàn cảnh của tôi bây giờ chưa cho phép tôi lập gia đình. Với bất cứ ai mà tôi yêu hoặc người ta yêu tôi. Nhưng nếu thiếu người yêu, tôi càng chán nản và lại thêm buồn khổ.
Cuộc đời tôi bây giờ, như một bạn sinh viên Văn Khoa Sài Gòn khác, dắt vợ lên Đà Lạt chơi – mà tôi vừa nhắc ở trên kia. Anh hỏi tôi một năm nay, tôi sống bằng gì? Tôi chưa có cái gì bảo đảm nuôi sống mình, làm sao mà nghe theo lời Ng. (giả thiết vậy) hoặc ai yêu tôi và tôi yêu người ta?
Để an ủi rằng mình không thể là người không thể có vợ được, không biết chiều đãi đàn bà, chẳng hạn thế. Nên tôi sẽ kể cho bạn đọc nghe một câu chuyện nữa. Về Thủy. Cũng là một trong hai người mà khách yêu đẹp và yêu cách nói chuyện tài hoa, lịch lãm  ở vũ trường kia, tất phải biết Thủy, vũ nữ tài danh.
Khi Thủy xin phép được chồng (T6), có lần tôi đã nhắc tên và trong truyện nữa, bằng lòng cho nàng đi Đà Lạt chơi với tôi vài hôm, nhân dịp Thủy xin đi thăm chị Hoa. Để cho Thủy nhớ lại Đà Lạt và chỉ có không khí Đà Lạt mới khiến cho nàng còn thiết tha sống và kể lại dĩ vãng cho tôi nghe. Và tôi nói với nàng, tôi rất muốn viết truyện dài về Thủy.
Sáng hôm cuối cùng trở về Sài Gòn, Thủy dậy rất sớm. Có lẽ khách sạn Dalat Hotel chưa ai dậy cả. Bốn giờ sáng. Trời khá lạnh. Chúng tôi ngủ chung một phòng, hai giường.
Sự nghi kỵ của anh bồi bắt đầu bằng cách gõ cửa mỗi khi vào phòng – chứ trước kia họ không bao giờ có thói quen này, đối với riêng tôi. Nhớ lại hôm đầu tới nơi, Thủy gặp Kim Chi, đồng nghiệp, ngay ở hành lang Dalat Hotel. Nhìn tôi, Chi bảo Thủy:
- Mày không cùng đi với chồng sao?
Thủy gật đầu, giới thiệu tôi là bạn của chồng. Lại cả anh chàng Tuấn Giang, (bây giờ gọi là Tuệ Giác, vì ký bút hiệu mới trong cuốn nói về Phật giáo tranh đấu chống Ngô Đình Diệm) gặp tôi. Anh kêu lên thật to:
- Đi với cô nào đẹp thế!
Cả khi chúng tôi lên phố ăn cơm, lại gặp anh ta, anh nháy mắt, nhìn chăm chăm. Tôi nhìn Thủy và bảo anh ta:
- Chúng tôi coi nhau như bạn đàn ông mà.
Làm sao mà anh ta tin, nên tôi lại bảo Tuệ Giác hỏi Thủy xem có đúng không? Anh ta hỏi thật và tiếng cuời của Thủy vang lên buốt lạnh, trong không khí trầm ấm tiếng nói của nàng, như làm cho sương và gió lạnh tan đi.
Rồi cả hai nhân vật ấy về lại Sài Gòn, nên hai miệng này thì cả Sài Gòn biết tin thôi.
Trở lại với buổi sáng dậy sớm hôm ấy, Thủy gọi tôi ra bàn trang điểm trong lúc tôi đang nhìn ra phía cửa sổ. Trong sương mù, sao như những ngọn đèn lại biết chạy. Rõ ràng là tôi tỉnh ngủ. Tôi dụi mắt và tìm cách thử xem mình thức thật hay là còn ngái ngủ. Tôi tỉnh thức rồi đấy chứ. Sau khám phá ra câu chuyện này, là sau đó, chiếc xe hơi chạy tới gần, mà lúc ở trên cao, tôi thấy ánh sáng kia tưởng chừng đèn đường biết chạy.
Thủy cười mãi về chuyện này. Rồi chúng tôi ra phố uống cà phê, vì cà phê Domino năm giờ sáng mới bán. Thủy vui vẻ, như chưa bao giờ thế cả! Chúng tôi xuống dốc, tôi đi nhanh hơn. Thủy kéo lại. Nô đùa tưởng như là đôi vợ chồng mới cưới vào tuần trăng mật. Tất cả bạn bè cũ của Thủy đã trầm trồ khi hai chúng tôi vào Maxim’sNight Club hoặc Tulipe cũng vậy. Ở đâu, Thủy cũng được nhiều người biết, Thủy nổi tiếng, hẳn nhiên, và được mọi người chào hỏi. Tôi bảo Thủy:
- Coi như tôi vô danh, nay có cơ hội nổi danh rồi!
Thủy đáp:
- Dân thượng du phía Bắc khôn lắm! Từ uống cà phê, biết ngiêng tách, lệch về thành đĩa, cả đến cách múc thìa đường vơi cho vào ly. Cả cách cầm thìa cũng điệu nghệ.
Uống cà phê xong, tôi hỏi Thủy, vào ngày chót ở Đà Lạt, nàng đã hết lo sợ về tôi chưa? Một người đàn bà đi bên tôi, ngủ chung phòng mà chính người ấy cũng lo, hẳn sao chồng nàng không lo. Và hơn nữa lại có nhiều điều tiếng từ trên Đà Lạt về Sài Gòn. Nhưng họ làm sao biết được, trong đời tôi, đã hai lần buộc con gái trinh nguyên khỏa thân trong phòng: để tôi tự thử xem mình có làm chủ được sự thèm muốn và đam mê không? Khi cô gái mặc quần áo vào rồi, ngạc nhiên lại bực tức nữa, bởi như họ bị tước đoạt giá trị, trước một tên đàn ông kỳ quặc.
Ngay tối đầu tiên tới khách sạn này, tôi đã bảo nàng:
- Nếu sáng mai khi Thủy ngủ dậy, không thấy tôi ở giường bên kia. Đừng lo nhé! Tôi không bị bắt cóc đâu, tôi đi ngủ chỗ khác và sẽ trở về. Bao giờ Thủy là đàn ông sẽ biết tại sao lại như vậy? Cũng sắp rồi (như nói đùa với nàng) đàn bà tu chín kiếp, kiếp sau sẽ được làm đàn ông, và kiếp thứ mười lại thành đàn bà đẹp có duyên.
Thủy gật đầu. Nhưng đêm đầu tiên, tôi vẫn nằm giường bên cạnh. Đêm thứ hai cũng vậy. Bây giờ Thủy cười và nói:
- Không sợ anh làm sao được, nếu khi tôi tắm bước ra, anh cứ ôm đại lấy tôi, tôi biết làm sao?
Chúng tôi dắt tay nhau đi hái hoa, Thủy thích nhất màu đỏ, còn màu đen chuộng thì nàng đã mặc com-lê vào thân người rồi. Tôi bảo nàng:
- Tôi và Thủy giống sở thích của nhau nhiều quá. Nếu Thủy là đàn ông, tôi phải khử – hoăc có tôi – hoặc còn nàng Thủy. Bao nhiêu kẻ thù nguy hiểm nhất, từ xưa, nhăm nhăm vào tôi để phóng giáo mác, nhưng bất thành. Nhưng Thủy là người tôi phải né tránh.
Bông thược dược nhung đỏ trên tay, nàng lấy ngón tay xoay tròn cuống và nhìn màu đỏ tía tỏa hào quang. Chúng tôi sống những ngày, những đêm đi chơi thật nồng nhiệt.
Thật là sống đời đáng sống...
Câu chót nàng nói trước khi rời Đà Lạt, Thủy nói:
- Đàn bà rất khó chọn chồng theo ý muốn. Nhưng đàn ông các anh dễ dàng lựa chọn người vợ hợp ý mình hơn. Sau này anh có vợ, anh sẽ biết chiều vợ và vợ anh thực sự sung sướng.
Cảm ơn Thủy.
Và cảm ơn nhiều.
Bằng cả giòng chữ viết....”
..................................
Khi về Sài Gòn, tôi còn đưa Thủy đi xem tử vi một lần nữa. Một đêm, ở Calmette. Sau khi lái tử vi nói về cuộc đời nàng xong rồi, hai chúng tôi đi uống cà phê. Gặp một bọn cao bồi, chúng nhìn chúng tôi như mồi. Thủy thấy tôi nhìn nghênh chúng, nàng bảo:
- Chúng nó à? Anh phải để cho bọn đàn bà trị chúng mới ổn.
Nhìn Thủy khóc, tôi bảo:
- Nếu khi cần, tôi sẽ nói thẳng, mê vợ bạn, có là phạm tội?
Thủy cười không đáp. Nhưng nụ cười, tôi nhớ mãi. Lại gặp Thu Minh và Phương Duyên, hai vợ chồng này có biết tôi lên Đà Lạt với Thủy đâu? Mà bây giờ gặp, họ biết tỏng từ trước. Tôi không biết chối bằng cách nào, đành nhận. Nên sau này, chồng nàng nghi ngờ tôi cũng phải. Một người như tôi có nhiều người quen biết, như Thủy nổi tiếng càng hơn, làm sao không gặp người quen cho được? Tôi từng nói nửa đùa nửa thật với chồng nàng:
- Khi nào tao mê vợ mày tột đỉnh, tao sẽ đưa khẩu súng và bảo: nếu mày không bắn chết tao, mày mất vợ.
Anh bạn Thu Minh có tin tôi đi chơi với Thủy như tình bạn không thôi, tôi không biết. Nhưng thực ra chúng tôi nằm khác giường, chung phòng; nhưng không có tà ý. Điều này chỉ có hai người biết với nhau thôi. Vẫn mong rằng có một ngày nào, tôi hoàn thành truyện về Thủy – những tình tiết công bố điều hôm nay chưa viết ra đây, ngay với chính tôi cũng lắm điều bất ngờ, thú vị. Lần ấy, Thủy có đọc hai cuốn sách mới nhất của tôi, cuốn thơ Thơ Làm Lớn Dậy Con Người, còn cuốn kia là truyện, Truyện Người Của Tình Phụ. Cuốn truyện sau này tôi viết về một nữ văn sĩ nổi danh của miền Nam thời kỳ trước 1963. Chẳng cần phải nói tên bà, độc giả cũng biết bà là ai? Trong tình trường, bà là người mê dục vọng và thích đổi đàn ông như thay áo. Chồng bà là một giáo sư dạy Anh văn dịch sách nổi tiếng và trong trường chính trị cùng đảng Dân Chính Đại Việt với Nguyễn Tường Tam thời hậu chiến. Bà làm tình trước mắt chồng với người thân của chồng, bà cho đó là cảm giác mới cung cấp cho tình tiết đời làm văn sĩ sau này viết truyện. Chẳng bao lâu, bà lại thay ngựa giữa giòng, không biết ngựa này đã kiệt sức; hay những đám mây đầy giọt sương hoa không còn từ trong khí huyết cung cấp đủ cho bà. Bà lại lên Đà Lạt cùng một thanh niên nghệ sĩ tài hoa về đường tình ái, dẫn dắt bà đến với một ngựa tình sung sức lại có tiền có của, chức vụ trong guồng máy: Sở Thủy Lâm địa phương. Chàng thanh niên nghệ sĩ đưa bà đi đây đó, không biết lúc này đã cấp cho bà bữa điểm tâm tình ái chưa? Nhưng đi đâu, chàng cũng đóng vai em trung tín hầu hạ bà chị nạ giòng. Lần ấy, ở sân bay Tân Sơn Nhất, T3 lên máy bay đi Đà Lạt gặp. Và chàng phụ tá đang lăng xăng cầm máy ảnh bấm lung tung dung nhan bà chị. Gặp T3, anh xiết tay và đưa máy lên chụp một pô. Anh cười rất duyên dáng, thỏ thẻ như lời đường mật của vũ nữ nhà nghề:
- Lâu lắm mới gặp anh. Hôm nay tôi và bà chị lên Đà Lạt thăm anh Hoàng Tổng, một công chức rất nghệ sĩ tính mời chúng tôi lên chơi thăm cảnh Đà Lạt, để có hứng cho bà chị tôi khởi sự viết truyện dài. Tôi có thể nói với anh ngay, truyện này thuộc loại cách mạng làm đổi mới phong cách ngôn ngữ, cũng như lối viết tiểu thuyết mới, xuất sắc hơn cả danh tài đang lên của Pháp Michel Butor là khác!
- Hân hạnh và hân hạnh. Thật diễm phúc cho văn chương Việt Nam qua lời giới thiệu của anh.
Biết chàng phụ tá đi hầu bà chị văn chương, chàng bỏ cô vợ đã ăn hỏi; đến nỗi bà chị văn chương tự động đến nhà người vợ chưa cưới của chàng phụ tá, thỏ thẻ. Đại để: ...“ Em ạ, chị chỉ còn một mối tình lớn nhất trong đời là anh ấy. Em còn trẻ, đẹp, danh tiếng (cháu họ nhà thơ nổi danh Hoàng Chương), em còn nhiều cơ hội hơn chị, rồi ra em sẽ gặp người yêu làm chồng tuyệt vời hơn cả hoàn cảnh bây giờ”.
Thế là cô em trẻ đẹp đành để cho bà chị nhiều thủ thuật trường đời áp dụng vào chuyện tình của nàng. Nàng gật đầu và người phụ tá em này cứ cố gắng lên; chị sẽ giúp em thành công về văn nghiệp rạng rỡ sau này; ở một người có thiên tài như cậu em. Nhưng mỗi lần cậu em đè ngửa bà chị ra theo dẫn dắt cơn tình đòi hỏi, bà chị muốn bật thành tiếng “anh ơi, em sung sướng quá” – sao hai tiếng anh ơi chưa thể thốt ra tự nhiên được.
Thủy đọc thâu đêm ở Đà Lạt, tiếp theo trận bão cười. Còn khi đọc thơ nàng gạch dưới đoạn này và nhìn đứa con trai kháu khỉnh của nàng làm nũng mẹ. Hẳn T3 hiểu, khi móng tay dài vút đỏ thon thon kia chỉ vào:
..... tôi muốn theo người tình
                 không bao giờ cần cưới
                     để hưởng đêm tình ái Đà Lạt
                          vô cùng ấm lạnh
                               mà quên đi quên hết ...
Lần thứ hai, Thủy đọc những câu trên, đắc ý. T3 muốn gọi Thủy và nói với nàng như thế này:
- Bà Huỳnh Thị Thu Thủy ơi, tôi muốn chọn một công việc nhỏ nhất, không ai tranh giành. Một anh tân binh cấp bậc binh nhì chẳng hạn. Điều mong ước của tôi giản dị lắm. Như thế này chẳng hạn:
Thế kỷ hôm nay
đá lởm chởm nhiều hơn đất thịt
tôi lớn lên theo tháng năm mấp mô
nên từ chối lời ngọt ngào âu yếm
đời sống con người trâu chó thiếu tự do
nên vần thơ về thành đạn trái phá
tấn công những xúc xiểm thành trì kiên cố
hố hầm nhiều cỏ úa không nẩy chồi
ngoài công viên mua cỏ
miếng bảng nhỏ cài lên trên
bằng ba thứ tiếngne marchez pas sur la pelouse
xin đừng dẫm lên thảm cỏ
đất nước mình xa lạ
như một công dân khác quốc tịch viếng thăm
ngàn đời tôi là con chim họa mi anh hùng
lấy hoang vắng của núi rừng cao cả
mặt trời chiều làm bạn dung thân
nhìn ra bốn phía buồn tênh
chân lý cuộc hành trình thi vị nhất là đơn độc...

Vì chúng ta đều thích rừng thông, nắng chiều hiu hắt, đơn độc. Tôi sẽ không quên nhiều chiều của tháng ngày này. Thủy một mình trên đồi sương mưa, để một quân nhân trạc tuổi tôi thấy vậy, sợ Thủy tự vẫn, nên ông ta trèo lên sân Cù an ủi. Khi tôi trở lại, ông ta xin lỗi và nói nguyên câu văn ấy. Ở đây Thủy đánh rơi mất cặp kính râm trên đồi thông, còn tôi mất chiếc nút manchette nhãn hiệu Hitcock. Thủy cười và bảo rằng trong hai chúng ta đều lưu lại cho Dalat kỷ niệm của lần này. Công bằng, Thủy bảo vậy, tôi vẫn còn nhớ. Rồi ánh đèn buổi nào trong sương mù dày đặc đêm Dalat, tôi mơ tưởng như nó vẫn còn chạy trên ngọn cây. Nhưng vắng Thuỷ. Không khí phù thủy của màu xanh rêu, bao vây khách sạn số ba của Biệt thự Hotel Au sans Souci trong rừng thông man mác...
Chiều vàng, ngồi gác chân nhìn ra, phiá trên tầm mắt là đường Trần Hưng Đạo dốc, tập giấy trắng vẫn nguyên hình giấy trắng. Của ngày này, tuần này, hai tuần sau, vẫn không khác hơn. Tôi đành về lại Saigon. Tôi lấy tay chỉ vào đoạn thơ này, chính tác giả còn thích thú. Bởi chúng chân thành như một người bạn không bao giờ phản bội. Cho rằng tôi thế nào đi nữa. Chẳng hạn như Nicholas Gogol nói:
..Tên tôi sau này sẽ sung sướng hơn tôi bây giờ...
Dân tộc tôi, rồi cũng sung sướng hơn dân tộc tôi ngày này. Khi tôi trở về (thật ra có đi đâu mà đòi trở về) tôi lấy vợ. Vợ tôi có thật sung sướng như Thuỷ nói không, nhưng tôi sẽ lại thăm Thuỷ. Hoặc Thuỷ lại thăm. Và nếu vậy, tôi sẽ mở cửa đứng chờ. Ngoài ra, không tiếp ai, như những câu thơ dưới đây, tất nhiên trừ Thủy:
  ...Tôi chọn mùa thu, rừng thông, nắng vàng hiu hắt
            bỏ làm thơ
                 hết dằn vặt thể xác đớn đau
            để nghe em vợ khôn ngoan
                 nét mặt cau có, hiên ngang sai bảo
            tên chủ nông trại này
              hãy đốt lửa và buông màn
     tôi làm tên nô lệ tình nguyện ý thức rằng
     bạn-bè-chồng-vợ-con-cái-bầu-đàn-lếch-thếch
     ngủ một giấc dài
                   sáng sớm mai
                            vươn vai
                                    ngáp dài
                                           chăm bón cây trái
     ngoài hàng dậu
                 gần ngay cổng trại
     bảng đề không là ba thứ tiếng
                 như bồn cỏ đô thành
     - không tiếp ai
                 vì chúng tôi là người ngoại quốc
(Thơ Làm Lớn Dậy Con Người)[14]
Đọc xong T6 bảo bạn:
- Tao thấy nó rất chân thành. Tao tin là nó giữ đúng vai trò coi vợ bạn là chị, nó không làm điều gì tà dâm, như đạo Thiên chúa giáo của tao theo phê phán.
Dũng trắng hếch mũi lên, như chê bạn là cả nể, dễ tin:
- Thằng ấy thuộc loại vô liêm sỉ. Xin phép dắt vợ bạn lên Dalat, mà mày cũng cho, rồi Thủy đem cả con theo, mày cũng cho. Trời Dalat thơ mộng cho những cặp có hai người, thằng ấy ngủ chung phòng, khác giường, thế mày cũng tin được nó không dám lần sang, xong việc lại quay về giường nó. Nhất là Thủy có con mắt đồng tình với nó.
T6 thở dài:
- Chuyện đã qua rồi, dù có hay không, bây giờ lại luận chuyện cũ chẳng ích lợi gì. Mày dự định thế nào? Chúng mình lên trên ấy đón Thủy nhé. Bây giờ vợ đi vắng, tao nhớ con nhiều hơn là nhớ vợ. Tao không thể ở đây mà không có con tao.
- Tao gửi thư tay theo xe đò lên cho thằng bạn ở Dalat dò tông tích xem Thủy ở đâu? T6, lần này mày không lên đón vợ mày sớm, mày mất con là chắc. Thằng Đinh Bù Loong không như thằng T3 đâu? Bởi T3 không thể lấy vợ mày, kể cả Thủy đồng tình? Mày biết tại sao không? Bởi nó trên răng, dưới bút máy – lấy tiền đâu nuôi vợ con – tình cảnh nó cũng chẳng khá hơn mày bây giờ, vất vưởng. Còn Đinh Bù Loong, nó có tiền của xe hơi – vợ mày chịu làm bé Đinh, để có tiền nuôi con. Mày không còn nhớ câu thà làm bé ông lớn còn hơn làm lớn ông bé à? Giá trị của văn chương dân gian rất năng động, linh hoạt, như là đúc kết kinh nghiệm cuộc đời, để thành ngạn ngữ dạy dỗ đời, kim chỉ nam. Còn văn chương của bọn nhà văn ngày nay, như tác phẩm của thằng T3 là cái đếch gì, chẳng ích lợi cho ai, kể cả cho nó. Và cuộc đời của nó sống bấp bênh, khổ như một con chó hoang kiếm sống.
T6 gật đầu tán thành:
- Mày nói tao mới nhớ, thằng T4 thẩm phán, trước kia lúc còn học Luật là bạn thân gặp nhau thường ngày. T4 thường phát tiền cho nó buổi sáng, nó vào thư viện, trưa dùng tiền ấy ăn cơm tay cầm([15]) chiều lại vào thư viện – chiều tối chúng nó gặp nhau bát phố, uống cà phê. Tháng này qua tháng khác, năm qua năm, cho đến khi T4 đậu Cử Nhân Luật, học lớp thẩm phán, vẫn cấp tiền cho nó. Thấy nó và T4 ngồi ở La Pagode, mặt nó nghênh nghênh hãnh diện, tao muốn đá cho nó vài cái và nói cho nó nghe cuộc sống ảo tưởng của nó. Nhưng không hiểu sao tao lại chưa kịp nói?
Dũng trắng lại thêm lời hạ phẩm giá bạn:
- Tao còn nghe thằng T nhỏ, thằng Tối Văn Sáng, bạn học với nó xưa ở Hà Nội, kể lại bà mẹ T4, còn đòi gả chị T4 cho nó. Bà cụ nói với chồng, gả Liên cho nó, thêm đũa thêm bát, vì nó có nghề ngỗng gì đâu gọi là chắc chắn, nay viết được vài bài báo, mai lại không – Năm này viết được cuốn sách, chẳng nhà xuất bản nào chịu in, lấy tiền đâu để sống, vậy mà bà cụ T4 bảo thêm đũa thêm bát là một cách nói khiến cho bố T4 yên tâm chấp nhận. Chứ miệng ăn núi lở, rồi khi có con cái, núi lớn núi nhỏ sập hết.
T6 đánh giá lời của Dũng trắng hoàn toàn chính xác, có cơ sở. Kể cả đối với Đinh Bù Loong, nếu không sớm đón vợ con về, coi như lần này T6 trắng tay về đuờng vợ con. T6 nhủ lòng, đành vác mặt xuống ông anh, bà chị vay tiền lên đón vợ con vậy.


n ă m

T
6 đang ngồi nhà lo việc lên đón vợ con, Tối Văn Sáng đến chơi, hớt hải như có tin quan trọng cần báo cho T6. Sáng kể việc T4 hàng ngày lái xe hơi Hillman từ Saigon đến Mỹ Tho làm việc, chiều lái trở về, tối đưa nàng Băng Tâm đi chơi. T4 cặp với nữ ca sĩ này đã có thành tích bảy năm ngứa nghề, như một phim nào dịch Sept ans de Réflexion, đào nẩy lửa Marilyn Monroe rũ váy xoay tít trên hố ga trong phim. T4 mê mệt nàng, gia đình cản ngăn cũng như không, dầu ông bố từng là con ông nội đội mũ cánh chuồn ngồi trên bàn thờ, chứng tỏ gia đình quan cách. T4 sức khoẻ tốt, người nhỏ thó, rắn chắc, nét phác họa chân dung in trong tập thơ Vô Cùng do Vị Ý vẽ, như chân dung tổng thống Huê Kỳ Lincoln. T3 nói đùa, ông Lincoln thuở thiếu thời có hiếu và vâng lời mẹ thật làm gương. Mẹ sai ông cầm tiền đến tiệm tạp hóa mua hàng, nhưng khi về bà mẹ thấy thiếu một penny, bà bắt con lội bộ hàng cây số đến đòi. Người con làm theo, vâng lời tuyệt đối, như một bản Thánh ca đạo Tin Lành
“...Ngài vui dẫn dắt ta hoài
Và cùng mọi kẻ hay tin cậy vâng lời.
Tin cậy vâng lời
Nào nhờ cách gì trong đời
Muốn hưởng phước thiên thượng ai ơi
Hằng duy tin cậy vâng lời...
A men...
Tuyệt nhiên chẳng chút mây mù
Này không bóng tối âm u
Nụ cười Christ đánh tan mọi lớp sương đời
Còn đâu thổn thức bơ thờ
Còn đâu khóc lóc nghi ngờ
Hồi mà ta quyết tâm tin cậy vâng lời...”
([16])
Dân Mỹ đa số theo đạo Tin Lành. Ông Lincoln thời niên thiếu chịu ảnh hưởng giáo dục Cơ Đốc Giáo, tin cậy vâng lời thì có điều gì lạ đâu? Ông thân sinh T4 nhớ lại năm thứ ba sắp thi ra trường, T4 nghe theo T3 in tập thơ không xin giấy phép, dưới thời pháp luật nghiêm nhặt của tổng thống Ngô Đình Diệm, khiến cả nhà lo lắng. Rồi T3 lại viết giới thiệu tâng bốc T4 như: “...Claude Blesnay([17]) viết về Pouckhine, thi sĩ tài ba số một nước Nga, cho rằng chàng là kỵ mã của công lý. Ngoài đời hôm nay, T4 là chàng kỵ mã của công lý mà còn là thi sĩ trước đó. Tên thật dùng làm bút danh thơ, sinh 1936 ở miền Bắc. Tác giả những bài thơ thuở học Quốc Học Huế, bạn học cùng trường, cùng lớp với nhà thơ Huy Trâm. Sau này Huy Trâm cũng là biện lý. Năm 1954, T4 có thơ đăng trên tuần báo Đời Mới (Saigon) qua bút danh Minh Lượng. Năm 1960 làm thẩm phán và cũng là năm anh cho xuất bản tập thơ Vô Cùng do Sùng Chính Viện (Uyên Thao chủ trương) in ronéo, tập thơ gồm 118 bài, ba đề mục: Vô Cùng, Trong Thành Phố và Bài Thơ Yên Nghỉ. Sáng đọc một đoạn thơ của Lượng:
       ...Tôi muốn tòng quân cho Tưởng Giới Thạch
       Đoàn quân xung phong đành thuê chiếm đất
       Để nói rằng đời người đầy ý nghĩa
       Và mỗi lần tôi xả súng bắn miên man
       Tiếng quý kim rung cười gờn gợn
       Nghĩa là tôi đi đánh nhau thuê
       Những ngày nghỉ hành quân về phép
       Tôi đi vào ngõ tối hắt hiu
       Ôm giấc mơ riêng tư
       Ngủ giữa lòng gái lạ
       Áo rách trên đùi
       Thương người lính trẻ
                                                 (Vô Cùng 7)
Và phê bình:
- Ông thấy thằng này ảo tưởng chẳng kém gì thằng T3. Từ thằng viết tựa đến tác giả đều là những tên sống theo chủ nghĩa ảo tưởng. Một thằng như T3 không tham gia sinh hoạt xã hội no cơm ấm áo của Tông Tông, không chịu nghe theo lời của một ông sếp mật vụ văn hoá, viết báo in sách theo chỉ bảo của đường lối chính trị để có cơm áo – và thằng tác giả thơ từ chối đời làm thẩm phán của mình xin đi lính đánh thuê cho Tưởng Giới Thạch, có quý kim rồi đi vào xóm nhỏ tìm gái điếm. Cái thằng này thuộc loại pin yếu, chẳng hiểu lấy vợ có làm cho Băng Tâm rên lên sung sướng hay chỉ đủ làm cho gái điếm giả vờ rên sung sướng nhận thêm tiền puộc boa của khách làng chơi? Ai chứ Băng Tâm mà không đủ pin làm sáng đèn thung lũng tình yêu, là nàng cho thằng chồng thẩm phán cắm sừng là chắc. Tôi hứa với ông điều này, thằng T4 sẽ chỉ sinh sản cùng Băng Tâm con trai mà thôi, không bao giờ có con gái.
T6 giả vờ hỏi, như không biết:
- Tại sao ông lại nói vậy?
- Phải có kinh nghiệm tình trường mới chiêm nghiệm được điều này. Làm tình, yếu sinh con trai – khoẻ phun như vòi chữa lửa là có con gái.
T6 chột dạ, thằng Tối Văn Sáng này có kinh nghiệm chăn gối với đàn bà, nó nói đúng. Chiêm nghiệm lại sống với Thủy, bút làm tình của T6 không thể là vòi phun, nên sinh ra thằng con trai, T6 chột dạ đặt tên cho nó là Tuân, thằng T2 có đời sống thật ổn định, đẹp trai du học ở Mỹ về, bút làm tình khoẻ khoắn, mong cho thằng Tuân con sau này được như vậy.
- Ông rất kinh nghiệm về việc này Sáng ạ. Moa nghe thằng Đinh đang có chuyện rắc rối về đường làm chính trị của nó, phải không?
- Đúng, Tối Văn Sáng xác nhận. Nó từng bị tù ở Trại Lý Bá Sơ, rồi trốn tù về Hà Nội, sau viết cuốn Bên Kia Bến Hải, được Mỹ ở đây cho là con bài chính trị sáng giá. Hai nữa, con gái thứ hai của nó sắp lấy một hải quân đại úy Huê Kỳ. Ông nên nhớ thế này, hải quân rất có giá trong quân đội, không giống như mình đâu. Một phi công hải quân có giá trị hơn một phi công lục địa. Bởi không phải phi công trên đất nào cũng có thể đáp máy bay xuống hạm đội được. Nhưng phi công hải quân đáp trên sân lục địa quá dễ dàng. Nhưng theo tôi biết tên phó đại sứ ưu ái Đinh hết nhiệm kỳ trở về Mỹ, tên mới sang có biết Đinh là ai đâu? Nên vấn đề tài trợ yếu đi nhiều. Thời gian qua, hắn cùng T3 và bà xã, con ông vi vút ở Đà Lạt, đi đào vàng, do tiền của Đinh cả đấy. Tờ báo, cơ quan của Hội tạm đình bản, như vậy pin tiền yếu, đúng không? Pin tiền yếu hẳn pin tình cũng khó mạnh được. Ông lên đón vợ con ông vào dịp này đúng nhất.
Tối Văn Sáng cũng làm thơ. Tết vừa qua, nó đem cặp bánh chưng tặng thằng bạn cũ cùng học ở Hà Nội – bây giờ nó là nhà văn có tiếng – ý Sáng muốn nó đọc và đề tựa cho; như nó đã viết tựa cho T4 và nhiều người khác. Thằng này vô liêm sỉ thật, bánh chưng nhận, nhưng sau một tuần đọc thơ, hoàn trả lắc đầu. Chẳng hiểu là nó không thể cảm được thơ Tối Văn Sáng hay đến mức độ nào, hay trái lại – cũng chẳng có một lời dắt ngang tai cho tác giả. Nó xưng tụng thơ T4 hay, dẫn chứng:
       ... Yêu là chết đi không ngừng
       Và yêu là được phục sinh
       Vì chết trong tôi là sống lại trong em...
                                               (Vô Cùng 17)
- Tiên sư thằng T3, như thế nó khen thơ hay thì lạ thật! Tôi chịu cách trả tiền cà phê ở Quán Cái Chùa của T4 cho anh em nhiều lần, không hề tị nạnh. Nhưng tôi không thể nhận được những câu thơ như trên là có tư tưởng lạ được?
Sáng nhớ lại, anh rất phục và lý thú với câu chuyện của ông Tòa Lượng vừa qua. Lúc này bạn ta làm chánh án Tòa án Thiếu Nhi, nghĩa là xử những thanh thiếu niên chưa đến tuổi trưởng thành, từ 18 trở xuống. Buổi sáng hôm ấy, Lượng xử một thiếu nữ mới 17 tuổi, có quan hệ mật thiết với một người Mỹ ở một căn buồng. Cảnh sát tư pháp làm thủ tục đưa ra tòa, vì người phụ nữ này đã bị bắt gặp đi với người ngoại kiều này ít nhất là hai lần trở lên. Bà cố vấn Trần Lệ Xuân dâm đãng ở đâu không ai biết, ngủ với Hoàng đế Bảo Đại bao nhiêu lần ở Biệt điện Dalat, chẳng ai hay, nhưng vì đại nghĩa, bà làm việc ấy, làm sao chê trách được – đó là dọn đường cho ông anh về làm Thủ tướng – và trả thù ông chồng pin yếu (yếu kỷ lục, thường trực) – nhưng nay bà có quyền hành, Hội trưởng đứng đầu Phụ Nữ Liên Đới, quyền hành trùm, có đứa ức, gọi là Liên Giới; chữ Giới ở đầu thế kỷ XX gọi là Giái, ghép thành Liên Giái. Tại sao những chính trị gia đối lập ghét bà, lên án đúc tượng Hai Bà là tượng trưng cho bà Cố Nhu, bà là chủ tịch Phụ Nữ, bà ngồi ghế bành giữa thanh thiên bạch nhật trước Tòa Đô Sảnh, bà hô Phụ Nữ Việt Nam muôn năm (giọng Huế nghe phảng phất Năm thành Nằm), đó cũng là lối nói xỏ lá mọn của mấy thằng đối lập ghen với Bà. Bà Trần Lệ Xuân đưa ra luật nghiêm khắc như vũ trường không được nhảy đầm, chỉ trà đàm, không được nói lời thô tục khiến mắc tội công súc tu sỉ, làm cho người khác đỏ mặt. Lại thằng đối lập con chống đối bà, cho tội công súc tu sỉ là bà nhớ đến lúc làm tình với ông Đôn sướng quá thì đỏ mặt, hứng nổi lên mặt bồng bềnh. Một phụ nữ Việt Nam đi với người ngoại quốc hai lần trở lên, coi như là có thông dâm, lập thành án đưa ra tòa. Nên tòa Lượng xử nguyên đơn mắc tội ấy. Tòa Lượng hỏi:
- Tên em là gì?
-....................
- Em bao nhiêu tuổi?
- Em 17.
- Tại sao em lại khoác tay đi với ngoại kiều đến lần thứ hai, bước vào cầu thang lên lầu buồng cho thuê?
- Dạ không, em chỉ đi cùng lên cầu thang.
- Sao lại đi cùng?
- Cầu thang quá chật, em cùng đi. Rồi một ông mặc xi din đi dép (thường ra rờ sẹc hồi ấy thường đi dép Lào, để ôm, chạy nhanh, dễ đuổi người) bảo em nếu không thích đi chơi với ổng, ổng sẽ lập biên bản đưa ra tòa vì đã cùng đi với người ngoại quốc này đến hai lần.
- Em lên trên đó làm gì?
- Chị em thuê buồng trên đó. Em lên thăm chị em.
- Thế chị em làm nghề gì ?
- Em không biết.
- Buồng chị em thuê có đẹp không? Có ai ở cùng không? Giường nệm gỗ, trải chiếu hả?
- Chị em thuê chung với hai người bạn gái khác. Buồng không đẹp, nhưng ngăn nắp, gọn gàng. Giường nệm, ba người ba giường riêng.
- Em có biết chị em làm nghề gì không?
- Không ạ.
- Chị em thường thức dậy vào mấy giờ buổi sáng?
- Chị em thức dậy trễ lắm ạ.
- Trễ là mấy giờ, cụ thể?
- 10 giờ ạ.
- Em có biết chị em làm nghề gì không? (hỏi lần hai)
- Không ạ.
- Em có biết bạn của chị em không?
- Biết ạ.
- Họ có đẹp không?
- Đẹp ạ.
- Bạn của chị em đồng lứa tuổi với chị em hay không?
Có tiếng của luật sư biện hộ bên nguyên lên tiếng:
- Thưa quý Toà, đã hỏi ra ngoài đề.
Có tiếng xì xào đồng tình với luật sư, cũng có tiếng đồng tình với Tòa.
- Tòa nghỉ mười phút, nghị án.
Có hai người trong nghề luật sư, một nói với người kia (nói rất chỉ đủ nghe):
- Thằng T. (ám chỉ T1 luật sư). Thằng này đánh lạc hướng bằng câu hỏi vu vơ đó.
- Sao ông lại quả quyết như vậy?
- Sao không? Nó là bạn cùng học ba năm Luật với quan. Bất cứ vụ án nào T cãi cho bên nguyên hay ngược lại, dù khúc mắc, khó khăn đến đâu, T cãi là trót lọt. Nó làm như vậy, ai cũng tưởng rằng họ không com-bin với nhau. Tôi cá cược với ông, con bé này sẽ được tha bổng.
- Luật bà Cố nghiêm lắm, thiếu nữ bị cảnh sát bắt gặp đi với một người đến hai lần (nghĩa là quen), nhẹ nhất cũng sáu tháng tù ở lần thứ nhất.
Hai người vẫn râm ran tranh luận. Luật sư giữ quan điểm cô bé kia sẽ được tha bổng, đưa ra một lập luận thực tế khác. Như, ông có thấy điều này không, ông quan trước kia là thẩm phán tập sự luật sư tại văn phòng Luật sư Lê Văn Mão, đường Gia Long. Quan tập sự mấy tháng, ra tòa cãi không được, đành bỏ dở sang học Thẩm Phán. Rồi giới thiệu Luật sư T (đậu sau hai năm) vào tập sự thay mình. Nhà của Luật sư T. trước kia ở Cư xá Trần quang Diệu, nghèo rớt mùng tơi, bố là công chức quèn. Nhà lại đông anh em. Ít lâu sau khi ra luật sư, cãi rất nổi tiếng của nhiều vụ án hắc búa, luật sư gặp quan-tòa-bạn-bè xử, ấy thế mua nhà mặt tiền bên Bà Chiểu. Nhà chưa to lắm, nhưng khá bề thế.
- Luật sư T lấy vợ nhà giàu ở Lục tỉnh mà.
- Điều này phải xét lại.
- Xét lại sao?
................

Mười phút trôi qua, Tòa bắt đầu lục đục ra phòng xử án. Sau khi yên vị, quan Tòa dõng dạc đọc:
- Nguyễn thị M.K 16 tuổi 9 tháng 10 ngày...
con ông ...... và bà ........
địa chỉ ........
nghề nghiệp: Học sinh.
.....................
Toà tuyên án tha bổng.
Buổi chiều khoảng bốn giờ. Một người thấp lùn, nét mặt khắc khổ, râu quai nón cạo nhẵn nhụi, áo sơ mi ngắn tay, quần màu beige cùng đi với người bạn cao lớn hơn anh ta, thắt cà-vạt trễ như thòng lọng, áo sơ mi ngắn tay, quần bó sát. Cả hai bước vào Quán Cái Chùa.
Hai ly cà phê, chưa ai gọi, đã được bưng ra. Với khăn tay trên tay người hầu bàn nở nụ cười chào khách quen, anh ta lau phủi bụi một lần nữa. Cả hai đốt thuốc lá, như con tàu rúc khói phì phì rời sân ga. Không thấy ai nói chuyện với nhau, rồi lại có hai người khác bước vào, lên tiếng chào một trong hai người là T4 và T3. Đó là hai nhà văn thơ có tiếng, là khách quen của La Pagode. Rồi một người to lớn bước vào; nét mặt trầm ngâm, đi thẳng vào bàn T3 và T4. Người đó chính là Tối Văn Sáng.
Bóng một cô gái đi qua quán, dừng lại gật đầu chào T4. T4 rất lịch sự đáp lễ. Và hỏi T3 và T nhỏ:
- Các anh có biết ai đó không?
- Đó là em bé, nhỏ đã đa tình, giết chết hàng chục người Mỹ trong trường tình ái, mới 16 tuổi, 9 tháng 10 ngày... vừa được ông Toà Lượng xử án sáng ngày – tha bổng.
Cả ba cùng cười râm ran.
T6 khen bạn:
- Ông giỏi thật Sáng ạ. Cái gì cũng biết. Chứ không như thằng T3 văn sĩ đả kích thằng Hồ Nam Lê Nguyên Ngư trong buồi đàm luận văn chương ở nhà lãnh tụ Hàn Thuyên cũ, ông Nguyễn Đức Quỳnh. T3 bảo với mọi người: “...Hồ Nam là người biết tất cả mọi điều, kể cả những điều không biết”. Thằng T3 chọc quê tên này, không những mọi người ồ lên cười mà sau nó còn viết câu ấy trong sách nữa. Thằng Hồ Nam này ba hoa bậc sư tổ, xứng đáng là học trò ngu của Phi Lạc Náo Hoa Kỳ.
- Sao lại bảo tôi khác nó?
- Thì moa khen toa mới nói vậy. À quên, thằng Hồ Nam xứng đáng là học trò ít ngu của Hồ Hữu Tường trong Phi Lạc Tiểu Náo Sài Gòn, chứ bảo nó náo Huê Kỳ là sai. Bởi như vậy thằng này English spoken by hand đến nỗi tay nó to cốt-sì-tô.
Nói tới tiếng Anh, tôi mới nhớ thằng T3 có tập thơ dịch ra tiếng Anh, tựa là cái gì Uplif ... ting...Poems, phải không?
- Đúng, có gì lạ trong tập thơ ấy?
- Lạ, một bài mang tựa đề He, hình như nói về thằng T4.
Tối Văn Sáng đưa tập thơ chỉ vào bài này:

HE
1-
He wrote poems to sing of freedom and to denounce slavery
His wish to be a willow tree on the windy coast
He wrote in poems, this world is full of great expectations
He and a deep love for less lucky countrymen
His hate: the trucks of screaming prisoners on the way to court
To make money was the last thing he would think of
He lived a good life, he was nice to those around him
He even shared the poverty of his fellow mates
He spent many years to pore over books in the university
His talking straight and thinking straight endeared him
in the eyes of many
He solemnly swore, I will never do bad thing to others.
He wept over the death of Frederic Garcia Lorca,
the Spanish poet
He pointed to the picture of Franco, loudly condemning him
as a cruel man
He paid homage to the Vietnamese hero Nguyên Thai Hoc
I shared his convictions and held him in admiration

2
Time passed... Time was a great master...Time taught us to do good is never easyMany a night I could not sleep because of him
Now that he was a judge, he betrayed his own belief
Holding the conscription notice, he shrugged his head:
“Tell me, what is this all about? Tell me
I only want to live, I am afraid to die, I love myself
I have only one life and I don’t want to lose it...”
He burst out crying as a little kid.

3-
On the way home, I could not say a word.

I.
Nó viết thành thơ ca tụng tự do, tố cáo nô lệ
Nó ước ao được như cây liễu vững trước gió biển ào ào
Nó viết thành thơ thế giới tràn đầy hy vọng
Vì nó và mọi người đều thiếu may mắn
Nó ghét tù nhân la ó nhốt trong xe ra trước toà
Chẳng lẽ sống chỉ mục đích kiếm ra tiền là chính
Cuộc sống phủ phê nó nhìn đời lạc quan
Cùng từng chia sẻ nghèo nàn với đồng hương đấy chứ!
Nhiều năm ròng nghiền ngẫm học hành đại học
Nó nói năng cởi mở xử thế ngay thẳng được kính nể
“Và thề độc là nó chưa từng hại ai bao giờ?
Từng than khóc nhà thơ Tây Ban Nha Frederic Garcia Lorca
Chỉ tay vào ảnh Franco, nó kết án tên độc tài gian ác
Nó chịu ơn anh hùng Nguyễn Thái Học khi nhìn dung nhan
Xác tín niềm kiêu hãnh và lòng sùng bái...”

II.
Thời gian trôi qua... thời gian vẫn là ông thầy lớn
Dạy chúng ta bài học làm điều tốt chẳng dễ dàng gì?
Nhiều đêm mất ngủ tôi nghĩ về NÓ
Ngồi chễm chệ trên toà xử, như chính nó tự đọc bản án cho mình
Dựa trên pháp luật chép ghi, rùng mình lắc đầu tự hỏi:
“Hãy nói cho nghe, tại sao lại như thế này? Hãy nói đi chứ.
Bởi tôi chỉ muốn sống lâu hưởng thụ, sợ chết sớm,
tôi yêu tôi quá đấy!
Rồi oà lên khóc rống như trẻ thơ...”
III.
Trên đường về không thể thốt thành lời...([18])
July, 23 1963.

- Giáo sư Anh văn thấy thế nào?
- Thơ ta dịch sang Tây, hay cũng đếch ngửi được.
- Nội dung nói gì?
- Tìm nguyên bản biết cặn kẽ hơn.
- Tập Thơ Làm Lớn Dậy Con Người in ronéo có trăm bản, làm sao mà kiếm ra.
- Hỏi tác giả.
- Nó cũng chẳng còn nữa, nhất là thời Mật vụ của ông Diệm nhiều hơn thường dân ngoài phố tịch biên rồi.
- Ra thư viện.
- Nó có nộp bản đâu mà có. Thơ và tác phẩm Đại Nam Văn Hiến in lậu không giấy phép. Tốt hơn ông dịch tóm lược cho tôi nghe.
- Đại để  ngày xưa, T4 chưa là thẩm phán xử án – cậu ta nuôi nhiều mộng cải tạo xã hội, tìm sự công bình, công chính, riêng với cậu luôn thông cảm với sự nghèo khó của mọi người, không làm điều gian ác đối với bất cứ ai. Ca tụng nhà thơ Frederic Lorca, rồi khóc thương thi sĩ ấy, lên án độc tài Franco cũng là người Tây Ban Nha, biết ơn anh hùng Việt Nam Nguyễn Thái Học. Rồi thời gian trôi qua, thời gian là ông thầy chứng giám cho sự trung thành điều nghĩ, nói có là hiện thực? Và bây giờ, cậu chánh án tự phản lại chính lý tưởng ôm ấp xưa kia... Nên thằng tác giả tập thơ làm xong bài thơ, thêm ý kiến chủ quan vào: “Trên đường về không thể thốt thành lời”.
- Thế là có nghĩa gì?
- Ông chậm hiểu bỏ mẹ, thế mà luôn luôn tự khoác vào mình là tác giả một tập thơ, xuất bản sớm mai đến chiều nổi tiếng.
- Ông lại lên mặt giáo sư dạy dỗ tôi?
- Không phải như vậy, tôi có làm thơ đâu, nhưng đọc thơ là cảm, hiểu, diễn dịch tư tưởng thầm kín của thi nhân muốn nói gì ngay. Chứ không như có kẻ mang danh giáo sư Việt văn, giải thích thơ của Hàn Mặc Tử như thế này:
Lá trúc che ngang mặt chữ điền”
Tôi theo giọng diễn giải của họ nhé: “...Đây là tác giả muốn cho người đọc hiểu thơ ông một cách sâu sắc, tư tưởng thầm kín của nhà thơ sống trong khung cảnh nông thôn; người nông dân chân chất, mộc mạc, không giả dối, nhất là khuôn mặt chất phác, được tác giả khắc lại trong khuôn mặt chữ điền. Hơn nữa, điền, chữ Hán còn có nghĩa là ruộng. Vậy thì: Lá trúc che ngang mặt chữ điền, ý nghĩa đúng đắn phải được diễn giải theo tinh thần ấy.
- Thôi đi ông, chuyện này được gọi là tự cổ văn chương vô bằng chứng, một giáo sư dạy Việt văn ở một đại học nào đó giảng cho lớp dạy tư trung học của mình, khi diễn nghĩa: “Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông”, nghĩa là người ta vẫn thấy hương sắc hoa đào cũ vẫn sờ sờ ra trên cành. Hơn nữa, phải là người có con mắt hiện thực mới hiểu được câu thơ hàm ý sâu sắc đến vậy.
- Điều giáo sư T6 vừa nói, tôi chắc những giáo sư dạy Việt văn kia không phải là Người Quốc Gia.
- Điều này đúng, ông bạn ạ, họ là tiến sĩ của Người Quốc Vào đấy.
- Là khen hay chê?
- Chê khen cũng thế thôi, tùy với người nghe.
- Cao xa quá, hiểu khó, giáo sư giảng tóm lược đi.
- Hai cặp thanh niên nam nữ hẹn nhau trò chuyện. Tình yêu, Number one. (Đôi này trong quán có nhạc xập xình). Khen trời mưa thú vị, ấm áp, ngồi xa nhau, phải đọc thơ Xuân Diệu: Xích thêm lại thế vẫn còn xa lắm. Cặp thanh niên nam nữ khác, thơ mộng hơn, ôm nhau thủ thỉ trong lùm bụi vắng vẻ (bởi người khôn người thích chốn lao xao? – không nhớ đúng nguyên tác). Trời mưa. Ướt như chuột lội (đừng sai gọi là Lột, lột thế quái nào được!). Có tiếng chê trách trời mưa. Vậy thì mưa trong một khoảng không gian. Có hai cặp tình nhân. Trong nhà: khen trời mưa. Ngoài bụi: trách trời mưa.
- Giáo sư giảng hay và thâm thúy, chẳng thế khi thầy dạy Anh văn ở Rạch giá, con gái họ Giang... theo như đàn bướm lượn lờ.
- Còn thơ cậu ra sao mà T3 từ chối, không viết tựa. Cần quái gì tựa với tiếc của nó. Đọc nghe thử, có nhớ không?
- Thơ tôi đại để cao siêu vượt hơn Thanh Tâm Tuyền. Nếu TTT làm thơ tượng trưng như thế này: Đạn nổ vào đầu nhịp ba không chết... Ý nghĩa sâu xa, gan lì, chịu đựng đến viên đạn thứ ba, máu chảy, mà vẫn không chết. Tôi làm thơ cao siêu hơn nhiều, như: Anh yêu em/ Tình yêu lính chiến/ Kẻ thù bắn vào anh dăm ba viên đạn lửa/ Anh giơ tay nắm lấy/ Nhân danh em... Giáo sư thấy thơ tôi không những đúng lập trường chính trị, lại siêu thực, tượng trưng, anh hùng ca, và đắm đuối tình yêu đôi lứa.
- Tôi thấy cậu đọc sai nguyên tác của người ta rồi chê bai, là không đúng với phê bình lý luận văn học. Cậu nhớ TTT là bạn với Thạch Chương, trong nhóm Sáng Tạo. Có nhóm nào hơn Sáng Tạo đâu? Cứ đả mà vẫn cứ phải xin đăng bài. Đăng bài ở đây mới là nhà văn nhà thơ thời đại của Việt Nam Cộng Hoà. Tôi đọc nguyên văn cho cậu nghe bài thơ, có một đoạn. Rất đúng với nguyên tác:
              .... Ngực anh thủng lỗ đạn tròn
              Lưỡi lê thấu phổi
              tim còn nhẩy đập
              nhịp ba nhịp ba
              có người cầm súng bắn vào đầu
              đạn nổ nhịp ba
              không chết
              anh ngồi nhỏm dậy
              khoẻ mạnh lạ thường
thế mới siêu chứ. Thạch Chương là ai cậu biết không? Dịch giả truyện của văn hào thế giới, rất khó dịch, như của Fédor Dostoievski.
- Giáo sư nói tới Cung Tiến chứ gì?
- Đúng. Du học ở Úc về. Lấy vợ bên ấy đem về theo. Bị động viên Thủ Đức, khoá sinh chửi mắng. Tức mình, tao là giáo sư Tiến sĩ Kinh tế, chúng mày biết gì mà giảng bậy bạ về kinh tế học. Chúng mày chưa đáng làm học trò tao. Thế là đi tù và ra trường tốt nghiệp trung sĩ. Được thuyên chuyển lên Cao Nguyên, Pleiku (lính tráng mất dạy dịch ra tiếng Anh bồi là to play cu – phối âm, nghĩa Anh Việt – như gọi Cố vấn Mỹ là học cao, bẩy nấc, rồi phịa ra: You are a great teacher, seven study). Nghe cũng êm tai, seven bẩy, studyhọc. Cố vấn Mỹ biết tiếng Pháp, nhớ lại Sept piliers de la sagesse tưởng chừng mình vĩ đại, học cao còn hơn cả cao học. Nhưng dịch nghĩa đen là thất học. Dân Việt Nam chỉ được cái láu cá vặt, tự hợm mình cho là hơn người.
- Lấy vợ theo như giáo sư nói, tôi biết tỏng. Lấy người tình hứa hôn của thằng Dũng trắng, phải không?
- Thôi cha nội, đía mãi. Ông có thể đi đón Thủy và con tôi được không? Ông giúp tôi việc này, Tối Văn Sáng ạ. Ông là nhất, việc chẳng nhờ ai hơn là nhờ toa. À quên, tập thơ ấy cứ đưa moa rồi sẽ nhờ Cung Tiến chuyển cho TTT. Ông Hoàng đế thơ tự do này mà đề tựa cho thi sĩ Tối Văn Sáng, (THƠ TỰ DO: TỐI ĐÊM SÁNG NGÀY) chẳng còn ai hơn đâu. Sáng thơ xuất bản – chiều nổi tiếng.
Tối Văn Sáng phởn quá đọc ngay bài thơ, phảng phất giọng thầy, thi sĩ hoàng đế:

Hãy cởi giầy, trước khi vào vùng ám khí thi ca
Như hãy cho anh yêu bằng mắt em liếc
những cuộc tình duyên Ce n’est pas d’argent
anh nửa trái tim hủi, em nửa trái tim vàng
Chúng kéo đầy đường chiến xe chẳng cán nát tim hai ta
Hãy cho em tiêu bằng đồng tiền anh khó nhọc
Như chúng đổ đốn bảo anh si tình ngốc nghếch
Môi son em hình trái tim không là họng lửa
Mỗi ngã tư hàng rào nhà em, anh nhảy đều qua
Mai trời dù mưa hay nắng, anh không sợ
Chúng nó thích giết người như em thích yêu em đến chết
Như lòng chúng ta hai đứa ôm chim cút vào lòng
Hãy cho anh cười bằng nụ cười của em
Mới đánh lừa nổi bọn con trai thèm khát
Hãy cho anh lùa ngón tay em vào anh
Thân thể anh run bần bật đợi chờ
Hãy cho anh ngủ bằng mắt em
Để đạn bay trượt trán
Đêm không bao giờ hết chẳng lẽ đợi ngày mãi
Giặc nào mở mắt nổi tấn công
Hãy cho anh chết trong mắt em
Để anh thôi làm cách mạng thi ca hoàng đế
Cho anh thở bằng hơi thở em
Đánh răng thuốc sát trùng nhai kẹo cao su thơm phức.

Hãy cho anh khóc bằng mắt em
Chuyện tình con trai cách mạng Budapest
.
Tháng 12 cuối năm
Trích tạp chí Sáng TạoTỐI VĂN SÁNG
- Thơ cũng được đấy. Tương lai rực rỡ, phong cách của hoàng đế nhỏ của thi ca tự do Miền Nam No Ấm. Nhưng nên thêm câu kết thúc cho có đầu đuôi. Chẳng hạn như:
Hãy cho anh cởi giầy trước khi leo lên giường em nằm.
tỏ ra mình không phải nô lệ mọi rợ văn minh
([19])


s á u

N
goài bốn mươi tuổi, ăn vận bộ bà ba nâu hoặc đôi khi trắng, khuôn mặt gầy, đôi mắt sáng rực lửa, ngồi ghế xích đu, bên cạnh ghế đẩu: vài ba cuốn sách đang đọc dở, một hộp diêm, một bao Bát tô xanh, có điếu bẻ nửa, điếu gắn trên môi. Giáo sư thành Đạt Ma, đó là cách gọi của thầy giáo Nguyễn Sỹ Tế làm văn thơ, nhìn chủ soái Đàm trường viễn kiến. Phan Lạc Phúc, tự ký giả Lô Răng phong tước ông Trùm, như ông Trùm Vito Corleon trong phim truyện The God Father. Ông Bố Già của giới văn học, giới chính trị, giới sân khấu, giới thương mại, giới linh mục, giới thượng toạ... Cũng vẫn văn phong tả lãnh tụ văn học Nguyễn Đức Quỳnh, Lô Răng cho là hấp lực của chủ soái mạnh mẽ, càng hơn như Corleon dầu mắt nhắm rồi vẫn làm cho kẻ thù run sợ. Sợ vì khối óc tư tưởng, khối óc như từ điển bách khoa của Việt Nam, của ông Trùm chủ soái.
Khi Trần Phoóng, anh chạy vặt văn chương báo giới văn học, làm ra cái vẻ kéo bè, lôi cánh, như chủ soái có mệnh hệ nào, ta sẽ xin ý kiến của phe ta, như Mai Thảo, như Vũ Khoắc Khoan, như Nguyễn Sỹ Tế, như Mặc Đỗ, như mụ vợ Thanh Nam, như Doãn Quốc Sỹ... Thí dụ hỏi về ông Trùm, bà đọc cuốn nào rồi? - Chưa, cả sách chưa đọc, cả mặt chưa thấy, ông Trùm là cái khỉ khô gì mà nhắc đến tên làm văn giới chấn động? Còn nhạc sĩ Phạm Duy cho ông Trùm như chất xúc tác cần thiết cho văn giới gần nhau. Chua thêm tiếng Tây cho bọn nó sợ, élément catalyseur, élément mà lại để chỉ người, coi ông Trùm chỉ là tĩnh vật.
Mai Thảo khôn ngoan, có cỡ văn học, nên không chỉ đăng nguyên bài, không có vài câu cảm tưởng như bọn lau nhau, nên tay này vi vút những câu có vẻ tha thiết: ...Mai Thảo ơi, sông Mã, sông Chu có còn không nhỉ? Đó là câu đề tặng sau này, cuốn Ai có qua cầu, anh Quỳnh viết cho tôi, trong cái ý gợi tôi nhớ lại cùng anh ấy gặp mặt mấy lần giữa hai giòng Chu Mã, chảy song song trên địa hình Thanh Hóa?... Một anh nhà văn trẻ tuổi hơn, sinh cỡ năm 1936... băng của Lê Hạ Vĩnh, Nguyễn Nam, Nguyễn Duy Nhiên, ...nhận xét về ông Trùm đĩnh đạc, sâu sắc, chân tình:
...Lúc anh Quỳnh còn sống đã có người viết về anh (không biết tên nào dại dột vậy, hay Phí Ích Nghiễm viết tên thằng chả, bị Trần Phoóng ghét không nhắc tên, không nhìn mặt, vì thằng chả xoáy tiền của tao, làm tao mất giấc mộng nhà triệu phú Trần Hoài. Đến khi tao đi bưng phở, gặp mấy thằng nhà văn, nhà báo vào ăn, tao sững người nhưng cũng phải bưng đến và nói chỏng: Thưa hai vị khách, quý khách vừa nhắc đến tên Trần Phoóng xưa kia của báo Văn, không phải là tôi. Thằng Trần Phoóng đã qua đời rồi quí vị ạ.) sau này chắc sẽ còn có nhiều người viết về anh, nhưng tôi thấy, ai viết một tiểu sử về anh cũng hết sức khó khăn, cho dù là những người thân nhất. Một tiểu sử chính xác, đầy đủ về Nguyễn Đức Quỳnh là một điều tôi không hề trông đợi. Mỗi người, tôi nghĩ thế, có một tiểu sử Nguyễn Đức Quỳnh...([20])
T3 cười một mình, anh nghĩ tới những lần anh phân tích biệt hiệu của chủ soái. Nào là Đặng Tầm Thanh. Tôi đố cậu biết tầm thanh có nghĩa gì? – Xin Chịu – Dễ, là đi tìm Thanh. Đố cậu biết Thanh nào? Thanh trong Gió Nam ra Hà Nội trình diễn, Thanh ở Guillemin, gần ngã tư nhà thờ Huyện Sĩ, chứ Thanh nào. – Sao cậu biết? – Chịu. Không ai ngờ con người đạo mạo như giáo sĩ thành Đạt Ma, ông Trùm, chủ soái mà trái tim hồng cũng dễ làm ông cảm động. Một tiểu sử Nguyễn Đức Quỳnh trong mỗi người. T3 xin kể tiểu sử này thật độc đáo trong tim người nữ có tên Xuân Tâm. Bạn đọc có nhớ người nữ nào có tên này không? Nếu quên, tìm chương nói về ông Vị Ý hay hỏi ổng. Nhưng hỏi ổng chưa chắc ổng biết, chắc chắn là hỏi Xuân Tâm.
Câu chuyện bắt đầu từ lúc Xuân Tâm hỏi T3 về bài thơ Quách Thoại tặng bác Quỳnh. Nhà chủ soái mở Đàm trường viễn kiến nằm trên đường Phan Thanh Giản, Saigon 3. Gần nhà, cùng ngõ là chùa, nơi thượng tọa Tâm Châu lúc này còn là trụ trì tại đây. Gọi là chùa Từ Quang cho dễ nhớ. Nhà trệt, lợp tôn, phía trước tiếp khách, phía sau buồng ngủ, bếp nước. Trước nhà có một sân rộng, cây ổi lớn che tàn bóng mát, trông ra ngõ, thẳng đường. Trên bàn vào giai đoạn 1955, có cuốn sách đóng gáy da rất lớn, khổ tờ nhật báo, chữ VƯỢT mạ vàng. Nơi đây, anh em văn nghệ chính trị, sân khấu cải lương, kịch cọt, bạn bè... đều có thể xưng tên ghi họ và viết cảm tưởng của mình vào cuốn Vượt. Chủ soái khi viết Nhân Bản Mới đã mở đầu cho Vượt Mác, sau một đề tài chính thức mang tiêu đề này. Không cần phải đọc Le Capital (Tư bản luận) làm gì, kể cả bản tóm tắt của Thanh Nghị chẳng hạn, dịch được một tom nhỏ, ông Hồ Nam xắn tay áo lên vượt Mác cùng thầy Quỳnh. Vì khỏe, sức trai tráng thì có, sức học, sức đọc thì không (tội, ít chứ không phải sâu, nông choèn, sát nghĩa), nên vượt sao cứ thụt lùi, rồi chìm lỉm ơi ới gọi thầy cứu. Quách Thoại lúc sống hăng nhất, làm ngay một bài thơ tặng ông Trùm:

Anh hãy hát bài ca Đông Phương
Anh hãy hát bài ca Đông phương màu nhiệm ấy
Tay hư vô ôm vũ trụ trọn đầy -
Anh hãy cứ ngồi yên điềm tĩnh vậy
Sóng gió gì! xe tiến hóa vần xoay
Ta sẽ gặp nhau, trái đất còn quay
Đường luân chuyển không ra ngoài nẻo Đạo
Anh vừa đi qua mong manh tà áo
Gương hư vô còn giữ mãi bóng Người
Bởi hôm nay xin Anh giữ nụ cười
Tôi nín khóc đợi Thiên Nhiên hàn gắn lại
Ôi! vỡ lở mộng vàng chưa được hái.
Đời nhân gian hoa trái tái tê màu
Tôi kêu lại, xin Như Lai hằng ẩn náu
Hồn bơ vơ chưa hiểu lối phương mô
Tôi kêu lại xin vô biên về ngự trị
Giữa hồn tôi lùi sợ trước Hư vô
Anh hãy hát giùm tôi lời ca vĩ đại
Của im lìm, huyền bí của Đông phương
Anh hãy ca giùm tôi bài Kinh bác ái
Của tình thương thành thực tại vô lường
Anh hãy ngâm giùm tôi lời thơ trở lại
Để ốm đau tôi cố bước theo đường
Quách Thoại
Làm tặng Hà Việt Phương

Lúc này Thoại ở khách sạn Đại Nam lầu, phòng số 2, T3 không nhớ rõ lắm, nhưng phòng số 1 đối diện là nhà văn diễm tình số một của miền Nam thời kỳ ấy trọ, Dương Hà quê Bạc Liêu, sách của Dương Hà bán chạy còn hơn tôm tươi, viết phơi-ơ-tông không kịp, bút Parker vàng, chữ viết rất nhỏ, người thâm thấp, mắt hấp háy. Và đối với bạn bè văn nghệ rất chân tình. Dương Hà uống rượu, bia như hũ chìm.
– Mày cầm bài thơ của nó đưa cho Hà Việt Phương đi. Không biết nó sẽ đi hồi nào? Mày viết về nó là thiên tài, là nhà thơ triết học, tao chỉ biết vậy thôi. Tao còn giữ đoạn này: “...Thoại thành công đáng kể trong lối làm thơ triết học: nhân bản nhược tiểu dân tộc. Vì đầu tiên, ông có thiên tài, có lập trường, có sống, có căn bản, có nghệ thuật diễn đạt. Nên ngay ở tiểu mục thơ chính trị, không mắc vào lối văn nghệ xu nịnh chính trị hạ đẳng. Nói khác đi, ông tìm hiểu chính trị và không để cho chính trị sai khiến mình. Về sau, thơ Thoại càng tiến hơn về chiều sâu, cũng như chiều mặt. Một nhà thơ tầm thường (ở đây, tôi dùng nghĩa tương đồng với bình thường) không thể thành công trong thơ triết học được. Những bài thơ mới nhất của Thoại sáng tác hồi nào, sung sức nhất là vào hồi tháng hai 1957. Trước ngày đi Huế, chữa bệnh, rồi chán đời đi tu. Rồi cuộc sống khổ hạnh nơi cửa Thiền, càng đưa bệnh tật Thoại vào chỗ chết gần hơn. Những bài ấy Sáng Saigon (có chút ảnh hưởng từ bài thơ Trở Về của Xuân Diệu, về lối nhìn – nhưng ông cũng vượt được như khi sáng tác bài Cờ Dân Chủ). Ông đã tạo cho mình một âm hưởng mới của thơ, mượn thơ khác để sáng tạo cái mới, chứ không bội thực: như chịu ảnh hưởng nguyên tác một cách trung thành đưa đến tầm thường. Sự nghiệp một nhà thơ hậu chiến, hy sinh trọn cuộc đời mình trên trận địa, anh dũng hơn bất cứ một địa hạt nào cao quí nhất. Viên kỹ sư tâm hồn của thế kỷ đã sống một cuộc đời thật trọn vẹn (lãng tử, tài hoa, phóng khoáng, độc lập) tôi gọi là cuộc đời hậu thân thơ thật đời, đời thật thơ như Rainier Maria Rilke. Ông vượt được hết trở ngại của những ngày sống nơi trần giới, sống không tầm thường – để lại sau mình danh bất tử. Tôi kết luận về Thoại bằng hàng chữ đó...([21])
Xuân Tâm nghe xong, nàng góp ý:
- Em không thể lập gia đình với anh Tâm được. Cũng có thể em chưa dám sống đời bấp bênh, khi nghĩ đến có con với anh. Lần em gặp bác Quỳnh, em có ý muốn ông cố vấn giúp em, cố vấn về chuyện tình nhỏ bé của em. Em rất thích bài thơ của Quách Thoại tặng Bác. Bác vuốt tóc em, nhắn nhủ:
- Hôm nào cháu lại Bác, nhớ đến khoảng tám chín giờ sáng.
Em vui như là sửa soạn gặp được người cha kính mến từ lâu ngày em và mẹ em không còn được gặp. Những lúc thiếu bóng dáng cha, em tủi thân khóc, chỉ một mình em biết. Sáng hôm đó em tới Bác, nhà cửa im lìm vắng vẻ, êm ả quá. Phòng khách đằng trước, chẳng thấy bóng dáng Bác thường ngồi trên xích đu. Em cứ mạnh dạn bước vào, như có tiếng Bác từ trong vọng ra:
- Con cứ vào đây với Bác. Bác mệt, sáng nay chưa muốn dậy.
Chiếc giường gỗ nằm phiá bên phải, từ ngoài bước vào, chiếc màn che chiếc mùng còn buông. Em vừa vào đến giường, Bác lôi tuột em theo tay Bác. Em sợ quá, giật tay thật mạnh, chạy ra ngoài. Em biết rằng sự khác biệt giữa Bác và Cha em là ở chỗ này. Nếu Cha em lôi tay như Bác vừa làm, em sẽ yên tâm hơn – tim em sẽ không đập thình thịch và nếu gọi đàn bà con gái có giác quan thứ sáu – em biết ngay phải phản ứng tìm lối thoát hiểm. Em còn như nhìn thấy đôi mắt nhìn như xoáy vào da thịt em, tiếng dỗ dành không làm em tin cậy:
- Đừng sợ, Bác yêu thương con mà. Từ lâu Bác vẫn để ý đến con ... Tiếng thương như không vang bằng âm chữ yêu, thôi chết rồi, Bác yêu mình rồi. Em không thể ngờ như vậy được. Bác có cậu con trai cũng từng si mê em như vậy, nhưng không làm em sợ như với Bác bây giờ.
Xuân Tâm đưa T3 lên gian thờ ở lầu ba, nơi Tâm thờ bà cụ. Tâm hỏi T3, anh nhớ mẹ em chứ gì? Hồi ấy, mẹ em bảo anh Tâm giá mà bằng tuổi anh T3, mẹ em chịu liền. Số em vất vả, em sống với nhà em được hai mụn con, anh ấy ra đi. Đây là ảnh chồng em, anh không biết mặt bởi em không mời anh dự đám cưới. Từ ngày ở Bộ Công Dân Vụ vào năm 1961, đến khi em ra trường rồi không còn gặp anh nữa. Cả anh Tâm cũng vậy, nhất là từ buổi anh đòi hôn em. Tâm đưa bàn tay của T3 lên đặt lên tay nàng, tiếp lời:
- Bác nắm tay em như thế này. Như Bác muốn vít cổ em xuống như tìm môi em. Em thử đóng lại vai kịch Bác đóng với em, để xem anh có sợ hay cảm động như em đối với Bác không nhé?
Giữa lúc này, cô con gái của Tâm lên bậc thang gọi mẹ, có khách tìm. Tâm bước ra xa hơn, tạo khoảng cách với tôi. Hai chúng tôi cùng bước xuống nhà theo chân cháu gái.
Và đúng như Dương Nghiễm Mậu nhận định: Mỗi người có một tiểu sử Nguyễn Đức Quỳnh, T3 ghi lại tiểu sử Nguyễn Đức Quỳnh của Xuân Tâm, tất nhiên không thể giống với bất cứ một tiểu sử nào khác. Nguyễn Đức Quỳnh cũng là con người có trái tim rung động, dù có khối óc từ điển bách khoa, dù có là ông Trùm, dù có là một ngòi nổ dễ làm chấn động các giới: văn học, chính trị, sân khấu, triết học, kịch cọt, phê bình, nghiã lý của văn chương...
Rồi Tâm tiếp:
- À quên, anh nói về Tạ Tỵ đi. Ông này viết sách phê bình anh viết về Bác Quỳnh như thế nào nhỉ?
- Hoạ sĩ tài ba Tạ Tỵ, không những ông vẽ có một bản sắc độc đáo, nhất là chân dung phác hoạ các văn nghệ sĩ – đến cuối thế kỷ này, chưa ai hơn ông. Nhưng cũng tên bất tài vô tướng, như thằng bạn thân của tôi, văn sĩ diễm tình Huy Sơn, nó khện ông anh Tạ Tỵ, vào hồi làm thư ký toà soạn nguyệt san Phụng Sự, cơ quan quân đội Quốc Gia Việt Nam, lúc này, Tạ Tỵ mang lon trung hay đại uý gì đó. Hai người không ăn ý với nhau, Huy Sơn phang một câu độc địa hơn cả sự nghiệp văn chương của nó:
- Tài ông bằng một Tỵ, ông cứ làm ra vẻ một Tạ.
Tạ Tỵ viết về Đàm trường viễn kiến của ông Trùm với các nhà văn nghệ trẻ:
“...Anh thường cho rằng những người làm văn học nghệ thuật trẻ lúc này không có lý tưởng. Họ làm nghệ thuật chỉ để thoả mãn những mơ ước trong đầu, nhất là mong nổi tiếng mà họ quên khuấy đi cái sứ mạng thiêng liêng của văn nghệ là phải phục vụ cho đời sống mỗi ngày tốt đẹp hơn. Chính vì Nguyễn Đức Quỳnh quan niệm một cách rõ ràng như vậy nên mấy năm sau, anh mở ra một hội trường nhỏ tại chỗ anh ở để mạn đàm viễn kiến, tức là vừa nói chuyện vừa tranh luận về tương lai của nền văn nghệ Việt Nam. Có rất nhiều nhà văn trẻ thường đến dự , trong đó có Thế Phong, Thanh Tâm Tuyền, Doãn Quốc Sỹ, ... Tôi không đến đó bao giờ ...”
Xuân Tâm quay sang T3 hỏi chàng:
- Các anh bằng tuổi nhau cả sao? Em muốn nói anh, anh Thanh Tâm Tuyền và anh Doãn Quốc Sỹ?
- Không, anh Thanh Tâm Tuyền sinh 1936 bằng tuổi tôi trong thẻ căn cước, thật ra tôi khai rút 4 năm để đi học. Còn anh Sỹ hơn tôi 9 tuổi, Tuyền 13.
- Thế đại họa sĩ Tạ Tỵ bao nhiêu tuổi?
- Anh Tạ Ty sinh năm 1922, hơn anh Sỹ một tuổi.
- Sao anh Tạ Tỵ gọi anh Sỹ là nhà văn trẻ?
- Bởi anh Tỵ tưởng mình lão làng hơn anh Sỹ. Nhưng thật ra chưa chắc ai lão thành hay thành lão hơn ai.
- Anh nói khó hiểu quá, nhất là đảo ngược chữ.
- Rất dễ hiểu, bỏ chồng khác với chồng bỏ, như thành lão khác lão thành. Này nhé, thí dụ ông Tạ Tỵ sinh năm 1922, năm 1945 đã triển lãm tranh tại Salon Unique ở Hà Nội. Khi đó, anh ấy thành họa sĩ có danh. Cho tới nay, hơn nửa thế kỷ anh ấy bước vào văn học. Nếu khoảng thời gian ấy, tài anh so với năm phục vụ văn học nghệ thuật đều giá trị, được công nhận bởi công chúng và dư luận trong ngoài nước, kết luận anh Tạ Tỵ là họa sĩ, nhà văn, nhà phê bình lão thành. Nếu so với số năm hơn nửa thế kỷ kia, chỉ tính năm thôi. Còn tác phẩm hội họa văn chương, thơ phú, phê bình văn học giá trị chung chung, hẳn phải kết luận hoạ sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình văn học Tạ Tỵ đã thành lão. Nghĩa nôm na là sống lâu lên lão làng.
- Em hiểu ra rồi. Tại sao anh Tạ Tỵ và anh Doãn Quốc Sỹ như gần bằng tuổi nhau mà anh Tỵ lại chơi trội gọi anh Sỹ là nhà văn trẻ đồng lớp với Thanh Tâm Tuyền và anh.
- Điều này rắc rối đây cô em Xuân Tâm ạ. Cô là nhà thơ không chuyên nghiệp, có tài làm thơ xướng họa, như bài thơ mừng thọ nhà văn Toan Ánh bẩy mươi, cùng với Cao Mỵ Nhân, Thư Linh, v.v... nghĩa là Xuân Tâm có tâm hồn thi nhân, điều tôi nói ra đây không có gì khó hiểu. Như trong một cuốn hồi ký văn học của Tô Hoài, ông nhà văn tiền chiến nổi danh sinh 1920 cho biết Doãn Quốc Sỹ ban đầu viết văn cùng với ông ở Hạ Yên Quyết, ngoại thành Hoàn Long, Hà Nội trước tiền chiến. Lúc này Doãn Quốc Sỹ lấy bút hiệu Quan Sơn, viết một truyện ngắn về con gái lớn của nhà thơ trào phúng Tú Mỡ. Nhân vật nữ trong truyện ngắn của Quan Sơn là phu nhân nhà văn Doãn Quốc Sỹ sau này. Cứ cái mốc này, Tạ Tỵ và Doãn Quốc Sỹ có thể cùng khởi sự viết văn vào cùng thời kỳ. Chẳng hiểu bức tranh đầu của Tạ Tỵ vẽ vào đêm 30 Tết bằng than, vì không có tiền mua sơn, vải bạt. Chàng hoạ sĩ nằm dài lên phản vẽ phác họa. Đó là những bức tranh đầu tiên của Tạ Tỵ, có thể xuất xứ cùng thời gian với truyện ngắn của Quan Sơn. Rồi trước năm 1954, về Hà Nội, không hiểu Sỹ viết nhiều hay ít, nhưng giai đoạn này Tạ Tỵ vẽ, viết khá nhiều. Nào là triển lãm, bài vở của Tạ Tỵ thường xuyên in trên tạp chí Thế Kỷ, chủ nhiệm Bùi Xuân Uyên. Sau 1954, Doãn Quốc Sỹ là chủ nhiệm tuần báo Lửa Việt, sau Người Việt, cơ quan ngôn luận của sinh viên. Và sách truyện của Sỹ ra thật đều, nhiều là khác. Trái Cây Đau Khổ, Sợ Lửa, U Hoài, ... Chủ trương nhà xuất bản Sáng Tạo nổi danh hậu chiến. Như vậy Tạ Tỵ không thể gọi Doãn Quốc Sỹ nhà văn trẻ được, hay ngược lại Doãn Quốc Sỹ gọi Tạ Tỵ nhà văn trẻ đồng lứa với Thanh Tâm Tuyền và Thế Phong. Doãn Quốc Sỹ vốn tính hay quên nhưng anh không thể không nhớ câu chuyện này:
Ba người ngồi với nhau trên một băng ghế, trước một hội quán thanh niên. Ba người tên là Phong, Văn và Sỹ. Sỹ ngồi giữa, mặc bộ bà ba trắng. Phong nói chuyện với Sỹ:
- Lúc nãy, anh nói với tôi, Tạ Tỵ viết hồi ký nhắc đến tôi. Có phải vậy không?
- Đúng.
- Nhưng anh ấy có nhắc gì đến anh không?
- Tôi không nhớ rõ lắm.
- Vậy tôi xin phép điều anh nhớ không rõ, để tôi kể chuyện nhỏ về anh qua anh Tỵ viết; mà tôi nhớ khá rõ. Anh Tỵ viết: Có rất nhiều nhà văn trẻ thường đến tham dự (đây là mạn đàm viễn kiến tại nhà anh Quỳnh tranh luận về tương lai của nền văn nghệ Việt Nam) trong đó có Thế Phong, Thanh Tâm Tuyền và Doãn Quốc Sỹ...” (số trang không nhớ rõ, nhưng nhất định không sai một chữ trong Những Khuôn Mặt Văn Nghệ Đã Đi Qua Đời Tôi, Thằng Mõ Cali xb 1990). Anh Tỵ gọi tôi và cậu Tuyền nhà văn trẻ không thể trách anh ta được, nhưng với Doãn Quốc Sỹ, được gọi nhà văn trẻ, thì anh nghĩ sao?
- Tiên sư cái thằng chơi gác!
Rồi anh đi đoàn tụ. Báo chí phỏng vấn anh Sỹ. Anh có đọc văn chương hải ngoại không? Nhất là hồi ký văn chương? – Có. – Anh đọc những cuốn nào? – Hồi ký Nhã Ca, hồi ký Tạ Tỵ, hồi ký Hà Thúc Sinh vv vv... - Anh cho biết ý kiến của anh? – Chẳng ra gì cả, kể cả Hồi ký của ông được gọi là Tạ với Tỵ. (Báo có ghi thêm một câu, nhà văn rất hay quên, nhưng riêng điều này ông nhớ dai và nhớ rõ).
- Còn anh Tạ Tỵ viết về anh ra sao, anh T3?
- Anh ấy viết theo cảm nghĩ của anh khi gặp tôi. Có điều, anh cho rằng viết cuốn Nhận diện vóc dáng nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh là phản lại người đã có công đầu nâng đỡ tôi trên bước đường văn chương. Đó là ý kiến của anh ấy. Không phải tôi.
- Thế anh có thể cho em đọc đoạn ấy không?
- Tôi nghĩ tóm tắt cho cô nghe như vậy cũng đủ.
- Em đã dám kể cho anh nghe một thoáng gặp của em với Bác, hẳn không thể giống bất cứ ai. Vậy anh còn tiếc gì em mà không cho đọc?
- Xuân Tâm lý luận cứng cỏi chẳng kém gì lời nhà văn Toan Ánh khen Xuân Tâm: ....“Tôi đã nhắc tới ở trên, và phía nữ tôi cũng đã nhắc tới một vài người như các chị Thư Linh, Thùy Dương, cô Đặng thị Tâm, ...([22])
- Em là Xuân Tâm, không phải Đặng thị Tâm. Và thật ra Bác Toan Ánh nhầm đấy.
- Phải, Bác nhầm, Tâm với Xuân, tuy hai là một, còn Đặng với Tâm tuy một mà hai.
- Anh vờ vịt mãi, không cho em đọc đoạn văn kia, nhất định em bắt đền.
- Bắt đền như có lần cô bắt tôi lên gác ba, nơi đó cô thờ bác, phu quân và nắm tay tôi như đóng kịch chứ gì? Thôi đành phải chiều cô em khó tính thôi.
“...Có những buổi sáng Chủ Nhật, tôi thường la cà tại phố Lê Lợi, đôi khi ngồi quán Kim Sơn uống cà phê, tán dóc với vài ba người bạn. Chính tại nơi này, tôi gặp Thế Phong. Khi đó anh đang chủ trương nhà xuất bản Đại Nam Văn Hiến. Sách của nhà xuất bản này đặc biệt in bằng máy Ronéo, và do Thế Phong vừa biên soạn, vừa đánh máy. Sau khi in ra, chính tay anh mang đi phát hành. Tất cả những gì do nhà Đại Nam văn hiến xuất bản đều không mang số kiểm duyệt, tức in lậu. Thế Phong thường được các người viết trẻ gọi đùa là nhà văn nghệ “cao bồi”, vì anh có cái tướng trông ngang tàng, bất cần ai và sẵn sàng đánh lộn nếu cần. Thế Phong, tóc hớt ngắn lởm chởm vì sợi tóc khô, cứng. Khuôn mặt trông khắc khổ, cặp mắt sắc sảo với chiếc cằm nhọn. Đặc biệt, anh có bàn tay sáu ngón. Thân hình tuy không to lớn, nhưng gân guốc, khoẻ mạnh. Thế Phong viết phê bình rất độc. Anh không sợ sự oán giận của người bị anh phê bình, do đó anh viết cả một cuốn sách để nói về cuộc đời của Nguyễn Đức Quỳnh, để mạt sát người đã dìu dắt và nâng đỡ anh trong bước đầu vào khung trời văn học. Nhưng không phải Thế Phong chỉ nói và chửi người khác đâu, anh dám nói cả thói hư tật xấu của riêng anh nữa. Cho đến hôm nay, tôi cũng không hiểu vì lý do nào, Thế Phong lại mến phục tôi, vì lúc nào gặp hoặc nói về tôi, anh đều dè dặt, có vẻ giữ lời, chứ không buông thả, chửi bới tùm lum như đối với những người khác. Thế Phong, con người rất đam mê, không những văn học mà còn đàn bà. Những người được anh mê, chắc cũng khổ tâm lắm như Cao Mỵ Nhân và nữ sĩ Linh Bảo. Thế Phong cứ viết đại ra, không biết viết như vậy làm hại danh dự của người khác, nhất là giới phụ nữ, nhưng hình như anh không cần hai chữ danh dự, anh viết chỉ nhằm mục đích được nói hết những gì mình nghĩ. Thế Phong còn ký dưới nhiều bút hiệu khác như Đinh Bạch Dân, Đường Bá Bổn vv.. Tên thật Thế Phong là Đỗ Mạnh Tường. Tôi cũng không hiểu sao Thế Phong lại có tiền để làm một công việc mà tôi tin có rất ít kết quả. Sách in Ronéo lem nhem, chữ còn chữ mất, lại in lậu nên phải bán giấu giếm chứ không công khai như các loại sách có kiểm duyệt. Thế Phong, nhà văn nghệ cách mạng muốn lành mạnh hoá nếp sống tinh thần qua phương tiện văn chương, nhưng có điều Thế Phong quên, trước khi muốn sửa người, hãy tự sửa mình, nghĩa là phải soi gương trước khi nhìn người khác. Tôi tin rằng Thế Phong nay đã gần 60 tuổi trời, khi quay lại nhìn những hình ảnh cũ, thế nào cũng nhận ra một số sai lầm và ân hận...” (Những Khuôn Mặt Văn Nghệ .... Sđd).
- Anh nghĩ sao về hoạ sĩ Tạ Tỵ viết về anh?
- Phải cảm ơn anh ấy với nhận xét chín phần mười đúng, phần sai có nghĩa gì. Không thể nói như một cậu nhà văn khác, Nguyễn Đình Toàn chẳng hạn. Cậu này, theo như anh Tạ Tỵ kể, trước khi được anh đề nghị viết trong Mười Khuôn mặt văn nghệ hôm nay thì săn đón, vuốt ve. Khi anh ấy vẽ xong, phác họa rất đạt, viết rất xác đáng, cậu Toàn bèn phán: “Ông Tạ Tỵ viết về Nguyễn Đình Toàn như viết ai khác...” Nếu tôi là anh Tạ Tỵ, không trách cậu Toàn, mà cảm ơn sự qua sông nhờ Mười Khuôn Mặt Văn Nghệ nổi danh hơn; lại sớm vén quần tè lên sóng...
- Còn anh nghĩ sao về Bác, kể cả những điều em kể cho anh nghe...
- Tôi thấy đối với Bác Quỳnh đúng, phản ứng cần thiết của một phụ nữ. Nhưng nếu em liều ... hẳn Bác sẽ nhờ em từ đó đưa vào văn chương những cảm giác khai phá mới cho hình tượng yêu đương. Em có tiếc cũng đã xong. Em hiến nụ hôn, thân xác em cho một người đàn ông khác, thì kẻ ấy chỉ khai thác nụ hôn, thân xác bằng hành động xác thịt, không khám phá được điều gì mới hơn là Bác được em cho khai phá ... Em là một phụ nữ rất đặc biệt, nên dưới nhãn quan của Bác, em như vợ một tuớng quân trong Thánh Kinh có tên U-Ri”. Một buổi Đa-Vít trỗi khỏi giường mình, đi dạo chơi trên nóc đền vua, bèn thấy một người nữ đương tắm, người nữ ấy rất là lịch sự. Đa-Vít sai hỏi người nữ ấy là ai thì người ta thưa rằng: Ấy là Bát-Sê-Ba, con gái của Êliam, vợ của U-Ri, người Hê-tít. Đa-Vít sai người đem nàng đến. Nàng đến nhà vua và vua ngủ với nàng. Sau khi nàng làm cho sạch sự ô uế mình, bèn trở về nhà. Người nữ này thọ thai, sai người tâu cùng Đa-Vít rằng: Tôi có thai...([23])
Vua bèn nghĩ cách độc chiếm nàng Bát-Sê-Ba, gọi tướng quân U-Ri đến hỏi thăm đạo quân, cùng chiến trận ra sao? Vua sai U-Ri đứng đầu gió chiến trận hiểm nghèo, để tướng quân bị đánh và chết đi. Sau vua Đa-Vít ăn năn, hối cải cầu nguyện Chúa tha tội. Thơ Đa-Vít làm có đoạn:
...Tội lỗi tôi hằng ở trước mắt tôi
Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ một mình Chúa thôi
Và làm đều ác trước mặt Chúa
Hầu cho Chúa được công bình khi Chúa phán
Và được thanh sạch khi Chúa xét đoán
Kìa tôi sinh ra trong sự gian ác
Mẹ tôi đã hoài thai tôi trong tội lỗi...
([24])
Là người khác, kể cả chồng nàng là Tướng quân, thân xác, tư tưởng, cảm xúc của nàng vẫn chỉ là khúc gỗ đàn bà lăn qua lăn lại trên da thịt đàn ông. Bác qua đời vào ngày 6 tháng 6 năm 74. Một ngày dài nhất của chiến tranh thế chiến hai kết thúc, trở thành một phim tuyệt vời hay, xúc động mà tôi đã xem. Đây là ngày ngắn nhất của Bác. Nhưng trước một ngày, Bác Quỳnh còn viết những giòng di cảo. Xuân Tâm, cô hãy đọc đi:
30-3-74, 7 giờ
... Tất cả các lý thuyết gia Đông Tây hiện đại đều chỉ mới đi đến Phương Pháp Luận. Trừ Jean Paul Sartre mới thực là đạt đến Nguyên Lý đời sống Con Người Hiện Đại.
10-4-74, 10 giờ 30
... Càng đọc Sartre càng thấy Sartre quả là Khổng Khâu của Thời Đại. Sartre là kẻ sỹ vậy.
22-4-74
... Không tài nào loài người và dân tộc tránh khỏi:Thế điều hợp nội ngoại, cá tập, gia lễPhép phản ứng hoá, Thiêu nếu muốn làm chính trị.Gan ỳ, “Ù Lỳ” nằm vạ của nhược tiểu.
15-5-74
... Từ hôm nay lại viết: ngoài sáng tác ra thì không có cách gì làm cho quên bệnh, tức là tránh cái ám ốp vì Ung Thư (hay là bệnh tưởng cũng vậy).
Ừ, thì lại “mở rộng phòng the”.
Trước đây, mỗi khi cầm bút hay ôm máy đánh chữ, thì sao mà lòng nó lâng lâng, nó hào hứng là thế. Mà sao bây giờ, hôm nay, lúc này, tuy múa bút thì vẫn múa bút thật đấy, song lòng thì thấy vắng, tẻ nhạt, ngao ngán thế nào ấy! Thời chăng? Thế chăng? Duyên tận, Nghiệp tận chăng?
23-5-74
Biết được chứng bệnh của mình đã là hiếm thấy như lương y, huống hồ đã biết Tinh và Khí của con bệnh? Chi nên, đến giờ này y học vẫn còn là một khoa học mò mẫm. Làm sao cho lương y phải sống nghĩa là đau và chịu đau như con bệnh.
26-5-74
... Thời đại này là Thời Đại Trao Đổi, Trả Đũa, là thời Rửa Hận, là thời ... gì gì nữa giữa Đông và Tây cũng vẫn là đúng. Nói rõ hơn là Đông bị Tây đem kỹ thuật học được của Đông rồi đè nén Đông suốt mấy trăm năm nay nên bây giờ là lúc Đông báo oán.
Đông Phương bao giờ cũng thừa sức “mớm ý” “làm thầy” Tây Phương về mọi mặt quân sự, chính trị, cũng như văn nghệ, đạo lý.
5-6-74, 21 giờ 30
Tôi cấm không ai khóc tôi, vì khóc tôi là phản bội tôi.
Tôi sinh ra trần truồng, tôi không mặc gì khi chết. Hãy gói tôi bằng một tấm nhiễu điều...
NGUYỄN ĐỨC QUỲNH

- Xuân Tâm ơi, đừng khóc nữa. Dầu sao cũng vẫn được Bác Quỳnh nhìn với con mắt muốn ngang hàng bởi em là người phụ nữ thông minh, đẹp bắt mắt, tâm hồn thăng hoa, ở những người khác Bác không thấy. Bác muốn đưa em vào văn chương, triết lý mẫu người đàn bà hiếm hoi của thời đại hôm nay.


Một đoạn nhật ký của T3
Saigon, 6 tháng 2... 22 giờ 40.
(. . . . . . . )

Tối nay đọc lại Tầu Ngựa Cũ, nhớ quá tấm ảnh Diệu gửi tặng vào 1957, khi nàng còn ở Hồng Kông – mà nàng thường viết thư gọi là Cảng Thơm. Thời gian ấy, Văn Quang nuôi tôi cơm áo ở đường Sư Vạn Hạnh, Saigon 10, ngồi viết Lược Sử Văn Nghệ Việt Nam (Nhà văn hậu chiến 1950-1956). Còn nó viết tập truyện ngắn Thùy Dương Trang. Nay, không còn giữ được tấm ảnh nào của Diệu, kể cả tấm ảnh photo lại mà nàng tặng – rồi cơ duyên này còn là nhờ Thế Nguyên xuất bản tạp chí Văn Mới, tôi viết tiểu sử và cho in ảnh nàng trên báo. Cuối năm 93, ra Thư Viện Khoa Học Tổng Hợp (Thư Viện Quốc Gia cũ), ở 69 Gia Long (cũng cũ), mượn tạp chí Văn Mới chụp lại, bây giờ dán vào cuốn truyện này. Cũng mua son lại ở Hồng Thập Tự, cũng lại phố tên cũ. Rẻ ghê, Tầu Ngựa Cũ, 126 trang, Đời Nay tái bản 1961 ở Sài Gòn chỉ có bốn ngàn đồng bạc. Diệu ơi! còn nhớ vào năm 1960, tôi chở nàng phía sau xe đạp, đưa nàng đến 165 Phan Đình Phùng (xưa - Nguyễn Đình Chiểu bây giờ), nàng đến dự họp Pen Club, có thấy thấp thoáng Nhất Linh, Nguyễn Thị Vinh, Nguyễn Hoạt, Vũ Hoàng Chương, Nhật Tiến, Hoàng Xuân Việt ... ở trong. Nàng bảo cùng vào họp Văn Bút với nàng, nhưng tôi từ chối. Rồi nàng kể lại nhà văn nữ Nguyễn Thị Vinh dèm, chê bai sự quen thân mật giữa L.B và T.P. Bà ấy không muốn L.B cùng T.P thân thiết quá chăng? Lý do không muốn tiếp tục cùng đi chơi với L.B, dầu nàng tặng chiếc áo xuân vào năm ấy, sau có bài thơ Chiếc áo xuân in trong tập thơ Nếu Anh Có Em Là Vợ ... (nay tái bản, làm sao gửi tặng Diệu một cuốn đây?). Bây giờ nàng ở Xê-Kỳ, lại không biết địa chỉ? Có lẽ, phải hỏi ông Lê Ngộ Châu mới được. Bởi vì ông Châu sang Xê Kỳ vào năm 95, và trong một lá thư, ghi lại hồi cảm, khi đọc NACELV (tái bản), ông viết:.. “Tập thơ đã trình bày thực đẹp và tôi vẫn thích các bài Độc Hành và Chiếc Áo Xuân đều được ghi tặng cho Diệu cả. Diệu có phải là LB không anh? Nếu vậy tôi yêu cả thơ lẫn người được tặng thơ và rất cảm ơn nhà thơ” (thư đề: Saigon 9.1.96). Bạn đọc có nhận ra câu văn cuối này thú vị không? Không ngờ ông chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa danh tiếng của Saigon trước 75, một người được đánh giá là commisaire – priseur có hạng([25]). Tuy ông không viết văn, nhưng lối vẽ trăng tròn, chỉ cần phác qua vài nét tả mây, là đủ; Và ông cũng rất thích được ngắm vành trăng tròn ấy!
Bây giờ tiếp tục nói đến lý do mình lơi là, trốn nàng? Bởi kẻ báo tin cho biết Diệu về Saigon vào 1960 – là chàng nhạc sĩ P..., chàng mà Nguyễn Đức Quỳnh gán cho, qua câu nói bằng tiếng Pháp: ...C’est le plus cinique des ciniques([26])  giỏi vô liêm sỉ hạng đầu sỏ. Tôi nghĩ, nếu con ngựa đực con của một con ngựa cái có thể trong một tầu ngựa nào đó, không thể còn một con ngựa đực nào khác – thì anh chàng nhạc sĩ kia là con ngựa đực non, cũng dám nhẩy đực con ngựa cái mẹ nó. Vậy thì nhạc sĩ Phạm báo tin này cho mình biết ở quán La Pagode, thâm tâm mình ghen; cho tên kia rất có thể đã lăng nhăng với LB rồi! Không nên quen biết nữa! Bài thơ Paris (trong tập thơ Vương Miện Mai A) tặng Diệu (bởi sau đó Diệu đi Paris cùng hai con gái). Có những câu:
“... Có lẽ hy vọng đời anh còn có lần trông thấy
Mỹ và Kim lớn lên theo bóng dáng tháng năm
còn hy vọng đời anh chìm vào thầm lặng
soi gương nào có tìm thấy bóng hình?
hình ảnh xa xưa về theo năm tháng úa
cô đơn này biết, mây trời xanh, sao, trăng...
phong thư cũ còn lại úa màu vàng
nhoè nét mực còn em sao vội mất?
buổi chiều tím nên lòng côi cút lạ
anh vào dáng nhớ tìm lối cỏ mòn xưa
nhà em ai nỡ khép cửa rèm băng
giọng nói xưa âu yếm còn đọng ngăn tường cũ?
gõ cửa tự hiểu không còn em nữa
mà sao anh vẫn đưa bàn tay đón lừa dối vào?
mà sao phi lý còn mong tiếng em thưa
nhưng chỉ mời nhìn sao ngơ ngác lạ
gật đầu bần thần chân buớc xuống bậc
lại ngẩng đầu nhớ giọng nói năm xưa?
Diệu Trang ơi! Paris bây giờ băng giá tan chưa?

thư anh từ Saigon đến Paris
Paris lại về thủ đô nhiều lần anh định giã từ
lòng giá lạnh trĩu đè năm tháng muộn
Diệu Trang đời em còn dài bao nhiêu đâu?
đành yêu đôi mắt thơ phản ánh hình bóng mẹ...”

Mỹ và Kim là con gái của Diệu, hay là Diệu Trang cũng được. Sau, tôi lại nghe tin nàng cùng hai con sang Luân Đôn, và hiện đang sống ở Xê Kỳ. Nhớ đến thơ có thể gọi hồn Hồ Dzếnh:
... Tình chỉ đẹp khi còn dang dở ...
Chàng thi nhân Minh hương này, ta đã thuộc từ lâu câu thơ của ông đó tự bao giờ? Và ta càng quý ông hơn, khi ông bỏ tiền xúc tiến Mê Hồn Ca của Đinh Hùng ra mắt lần đầu ở Hà Nội vào những tháng giữa chia cắt 1954? Còn ta, với Diệu vẫn chỉ là hồn ta mê nàng dang dở; vì chàng nhạc sĩ  tài hoa P. đưa tin, làm lòng nghi ngờ, phiền muộn? Chàng nhạc sĩ hoa thơm đánh cả cụm, không trồng mà chỉ ngắt, có đến 269 mối tình, như thi sĩ tài hoa huê dạng Nguyên Sa cho biết, qua một cuốn sách([27]): Như coi con tàu là người đàn bà, chàng nhạc sĩ kia là xếp ga, chẳng con tàu nào qua ga không bị xếp ga vẫy cờ dừng lại?
Còn nhớ nhà thơ tự biết mình điên; và điên thật đến nỗi nhiều lần trong đời đi nằm bệnh viện tâm thần ở Biên Hoà, đó là Nguiễn Ngu Í (nhất định không viết Y dài; nhưng khi gọi tên ca sĩ Thanh Thúy, thì không thể không viết I ngắn). Anh là phóng viên phỏng vấn văn nghệ sĩ thật tài tình, ai khó tính đến đâu, cũng khó lòng không thể trả lời. Những bài phỏng vấn văn nghệ sĩ của anh đăng trên tạp chí Bách Khoa của chủ nhiệm Lê Ngộ Châu (lại Lê Ngộ Châu, và hình như Nguiễn Ngu Í không nói ra điều ước mơ thầm kín đối với LB, nhưng anh Í không tin điều tôi viết về LB trong Nửa Đường Đi Xuống). Năm 1968, Nửa Đường Đi Xuống tái bản lại, anh gặp, sau khi cho biết đã đọc xong sách một lần nữa, muốn mượn coi những lá thư tình của LB. Nhìn thấy nét chữ LB, anh im lặng, sự nghi ngờ kia chắc là giảm độ ngờ. Cũng có thể, như chủ nhiệm Lê Ngộ Châu, anh Nguiễn cũng thầm yêu dấu trộm LB cũng không chừng?

Tối hôm nay, nằm nghe nhạc thính phòng (đài FM phát từ 22 đến 23 giờ. kênh 7) nhạc như cùng ta sống một thời, đã chẻ tâm hồn ta trăm mảnh nhớ dĩ vãng. Không thể ngủ được, dậy, viết những giòng này; lại ngắm ảnh Diệu – lại nhớ câu trong thư mấy chục năm rồithời gian già, người càng già, càng xấu – nhớ có yêu, hãy chừa một khoảng trống – để gặp người thật già hơn ảnh, không bị sốc vì thất vọng. Tình yêu bậc chị, Diệu hơn sáu tuổi. Xem lại Tầu Ngựa Cũ, mất hai trang, 63, 64 rồi một ít 65, hẳn hoi là tác phẩm đang dọc này cũng dang dở. Bây giờ khám phá ra cũng quá muộn màng! Rồi Diệu và con sang Pháp, như nhắc đến trên kia. Những ngày sống chơi vơi của tôi ở đây; cơm áo dày vò ít hơn đời sống tâm linh chán nản, lại gặp ngay Đinh Xuân Cầu, tác giả Đôi Kính([28]), rủ đi nhà hàng Tự Do, nói là nghe nhạc. Nhưng thực ra anh ta mê khiêu vũ. Rồi gặp Thủy, người vũ nữ tài danh một thời, chúng tôi lên Phi Nôm Dalat đi đào vàng, tấm bản đồ mua lại được của một anh có tên Phan Chu Tế bán bản đồ mỏ vàng chôn cất của đảng Hắc Long trốn chạy về Nhật. Rồi mỏ vàng vẫn chẳng thấy, chúng tôi y như nhân vật của Panaðt Istrati đi lượm bọt sóng trong Le Pêcheur d’Eponge từ trước thế chiến hai.
Bây giờ cả Diệu, cả Thủy – xa cách nửa trái địa cầu. Hai người nữ ấy đều ở Cali. Vậy giờ này, theo cách lấy giờ đồng hồ như họa sĩ Phan Diên chỉ, vặn lùi lại ba tiếng đồng hồ, đồng thời tính lui lại một ngày. Giờ: các vị đang ăn cơm tối hay ăn xong rồi đang ngồi coi TV hoặc đang nghe nhạc? Hỏi, có nhớ chuyện của trên dưới ba mươi năm xưa không?
Định bụng gọi điện thoại cho ông Lê Ngộ Châu, tối nào ông cũng về nhà trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa ngủ, sáng ở suốt ngày tại đường Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3. Nhưng sau thôi; sợ giờ này ông đã ngủ. Người già quý giấc ngủ, dỗ dành mất ngủ hẳn là tai họa. Nên thôi, và viết tặng cho ông mấy hàng chữ:Ông có thể giúp tôi chuyển tặng người:... tôi yêu cả thơ lẫn người được tặng thơ”. Được như vậy – tôi lại phải cảm ơn ông, như ông rất cảm ơn nhà thơ nào là tác giả Nếu Anh Có Em Là Vợ.

(. . . . . . . . . . . .)


k h é p

Sau năm năm sang Huê Kỳ, Thủy trở về thăm chị, cháu còn ở quê nhà; tiện thể ăn một cái Tết quê hương. Buổi sáng ở phi trường TânSơn Nhất thật đẹp. Trời không nắng, gió se lạnh, nắng gián đọan; không khí hơi ẩm thấp như mùa thu Hà Nội (mặc dầu chưa một lần nàng biết Hà Nội, nhưng đọc qua sách vở và nghe chồng kể). Thủy như nhớ lại hết khoảng dĩ vãng dài biến động. Đinh Bù Loong, tên người khách của vũ trường Tự Do; của tay anh dài ôm đầu nàng lọt thỏm qua những đêm lạnh ở Đà Lạt; đến những buổi khiêu vũ cuồng nhiệt ở Night Club, Tulipe. Mỏ vàng ở Phi Nôm cũng chỉ là bọt bèo, và nàng nhớ lại T3 nhìn lán trại trơ khấc đất đỏ ba-dan đào lên như núi, chẳng gặp quý kim – anh ta nói một cách văn chương với Đinh:
- Ông ạ, chúng ta là nhân vật truyện của nhà văn Lỗ Mã Ni di cư sang Pháp, học và viết được tiếng Pháp; đi lượm bọt bèo trong tác phẩm Le Pêcheur d’Éponge. Chỉ khác là bọt bèo của chúng ta ở trên đồi Phi Nôm, chứ không ở dưới biển như của tác giả.
Và Thủy đành trở về Sài Gòn với đứa con trai mụ mẫm trên tay. Người lên đón nàng là T6 và Tối Văn Sáng. Bây giờ nàng có ba trai một gái với chồng. Bỗng nhiên nàng nhớ lần nàng sinh con gái, khi vợ chồng Tối Văn Sáng vào thăm, anh ta ngượng với Thủy – bởi anh cho rằng không bao giờ T6 có thể tạo cho vợ mình sinh con gái. Sáng còn nói đùa khi bế bé trên tay:
- Xem con gái này có giống bố nhiều không nào?
Anh ta nói vậy, như là những đám mây trôi, khí huyết lai tạo con gái nàng; cứ như là không phải của T6.
Trong đám người đón lô nhô ở sân bay, có nhiều người cầm một chiếc bảng. Bảng này có hàng chữ Welcome Mrs. T.M Johnson, bảng kia có hàng chữ: Chào đón: Ông Chủ, Houi Sang, nàng chưa thấy bảng nào mang tên Welcome Thủy, như cháu nàng cho biết cứ nhìn thấy tấm bảng này là cháu ra đón dì đây. Dì và cháu chỉ mấy năm thôi, cũng sợ chưa nhận nổi ra nhau.
- Cô Thủy, cháu đây.
- Sao không thấy bảng?
- Có chứ, cháu úp lại, thử xem cháu và dì có nhận được nhau không?
- Thế sao tao là dì mày, mày lại gọi là cô?
- Gọi chung chung ấy mà. Nghe tiếng cô âu yếm hơn, dễ nghe hơn dì ạ.
Trên đường từ sân bay về nhà, Thủy nghĩ đến T3, gia đình anh còn ở lại đây sau 30 tháng tư. Gia đình anh chắc hẳn vất vả nhiều, nhất là mười lăm năm đầu; sự chịu đựng ở mỗi con người, mỗi gia đình phải tăng lên đến trăm lần chịu khổ mới sống được với thời đại đổi thay. Nhưng là cái số phận chung, nên không ai so bì, tị nạnh. Thủy nghĩ tới Đinh, giờ này anh cũng còn ở lại quê hương, vợ con anh sang Mỹ từ lâu; trước ngày xảy ra biến cố. Thủy nhớ lần gặp Đào ở Cali. Đào đi với con gái thật xinh, gặp Thủy, chào thật cung kính, quí mến; khiến nàng cảm động. Đào hỏi thăm T3, hỏi thăm có gặp lại bố nàng không; nàng vẫn gửi tiếp viện về cho Đinh nhưng không rõ hoàn cảnh sống như thế nào? Thủy lắc đầu, cho biết chỉ gặp T3; cũng rất là đôi khi; hàng năm, vào dịp Tết, T3 chở vợ lên Chợ Ông Tạ mua lá nấu bánh chưng, gửi xe ở quán nhà nàng. Ở lại quê nhà, còn Tối Văn Sáng, Dương Cự luật sư, gọi vậy cho đỡ nhớ, bây giờ Cự sống bằng nghề dạy học cho qua ngày. Vợ Cự đi làm, con cái sống ở Pháp. Cự còn khá giả, sung túc hơn T3, cả gia đình anh chẳng có ai ở nước ngoài để chi viện. Nhớ có lần T1 nói với chồng nàng:
- Thằng ấy sống với Việt Cộng là phải. Tài năng của nó được dùng rất đúng chỗ, làm lơ xe cho Ho Chi Minh Bus Company, như một tờ báo lá cải nào ở Pháp loan tin cách đây cả mười mấy năm. Cho thằng T3 sáng mắt, nó khổ tao không xót, chỉ xót cho vợ con nó thôi. Tao nhớ những ngày gần 30 tháng 4, nó sang nhà tao đòi vay năm chục đô la. Nó bảo gia đình hiện chỉ còn năm ba chục ngàn tiền Việt, ra đi dọc đường lấy tiền đâu mua bánh mì cho năm con còn nhỏ. Lúc đầu tao hứa; thật ra tao không ưa nó mấy về sau này – nó không biết điều này; nên ba bốn lần nó đến nhà mượn, tao đều lánh mặt. Thủy biết T1 luật sư rất không ưa T3, nhất là dạo các anh ấy sống ở Vũng Tàu, chồng nàng, rồi nhạc sĩ Dương Hồng Duyệt, Tối Văn Sáng, T1 luật sư, Dương Cự, San trố (mắt trố ốc nhồi), T3 và vợ vv ... sống ở Trung Tâm Xây Dựng Nông Thôn. Nơi này chấp nhận những giảng viên chính trị, dạy khóa sinh áo đen, còn giúp họ thoát được gọi nhập ngũ, động viên. Dương Cự và T3 làm tờ nội san; San trố, T6 phụ tá Huấn Luyện cho Chỉ huy trưởng Lê Xuân Mai, một đại úy Việt Nam Cộng Hòa cai quản các trại Cát Lở, Phù Đổng. Chí Linh. Rồi khi về Sài Gòn, T3 viết một bút ký Tôi Đi DânVệ Mỹ, khiến cho Mai và những người bạn cũ ở Trung Tâm bất bình. Có lần ở Bolsa, Lê Xuân Mai gặp T6, còn ta thán:
- Mấy chục năm tôi cũng không quên được vụ anh giới thiệu thằng cha văn sĩ (tên là gì nhỉ) ra Trung Tâm, rồi về viết sách, còn dịch sang tiếng Anh The ordeal of the American Militiaman, khiến tôi bị loại khỏi CIA. Tôi chẳng giấu anh làm gì, mà bây giờ có giấu cũng vô ích, sách của Neil Sheehan([29]) tố giác tôi nhân viên CIA từ thập niên 50. Chung qui cũng chỉ tại thằng bạn ông giới thiệu với tôi quậy nên mới ra nông nỗi này. Hôm gặp luật sư T1, anh ta cũng phàn nàn về văn sĩ ấy, cho biết hiện làm lơ xe đập thùng hẳn hoi; tôi thấy cũng phải, đáng đời hắn. Khi hắn là trung sĩ đồng hoá Không quân lên Pleiku, tôi gặp hắn ta ở sân bay – tôi quay mặt đi như không muốn nhìn thấy bản mặt phản thầy, hại bạn được viết tại trong sách.
Lần ấy, Thủy phải đỡ lời bênh vực T3 – nhưng cả chồng nàng và bác Mai đều không đồng tình. Chỉ tôi là hiểu rõ T3, anh trực tính không dễ dùng tiền bạc, lương hướng, mối lợi đồng tiền làm thay đổi chí hướng của anh. Không phải dễ mua chuộc anh, anh bảo với tôi, nếu quí vị mua tôi, quá muộn – vì trước quí vị có nhiều người mặc cả, tôi bán tôi, làm gì còn cơ hội cho quí vị ra giá mua tôi ở bây giờ. Anh ấy phóng khoáng tài hoa, độc lập, lãng tử đúng như T2 nhận định.
T2 hiện nay rất khá giả. Con trai đầu lòng của Thủy, do chồng nàng đặt tên, muốn con mình sau này sẽ sung sướng như Tuân, giáo sư đại học, mã danh T2, do T3 đặt làm nhân vật trong truyện. Anh có gia đình, chủ hiệu sách lớn ở Bolsa, vừa đây cho xuất bản nhạc Cung Tiến, thơ Mai Thảo, và nhiều tác phẩm nổi tiếng của nhiều tác giả khác. Chồng nàng gửi theo ít quà cho T3, chàng bảo vợ:
- Em đến gặp anh ấy, chắc vẫn địa chỉ cũ trước khi ta rời nước, một hộp thuốc píp Half and Half to sù, thắt lưng da nhãn hiệu Levi’s chính hiệu, một lô bút xanh, đỏ Papermate Huê Kỳ, một hộp Salonpas và cuốn thơ Mai Thảo. Em cũng kể cho bạn ấy nghe, thỉnh thoảng anh có gặp Cao Thế Dung. Anh bạn này Tiến sĩ kinh tế có giá trị thực sự, chứ không phải tiến sĩ giấy, văn bằng mua, kể cả văn bằng Tú tài ngày xưa – như dược sĩ Lê Trọng Văn tả chân dung trong một cuốn sách mang tên Những Con Thò Lò Chính Trị.
Thủy còn vặn lại chồng:
- Anh bênh anh Dung như với bản thân mình. Vậy không phải anh Dung là cha nuôi con chúng ta, thằng Tam?
- Không hoàn toàn vậy, em có nhớ T3, lúc giận, chỉ vào mặt anh Dung nói như tát nước vào mặt, định dạng cho anh Dung chỉ có thể đóng kịch, nhất là nếu có đóng vai ông Thượng tọa có tên Thích Tâm Châu. Bởi T3 cho anh Dung có khuôn dáng giống Thượng tọa; theo đạo ít, đời chính trị nhiều, khuôn mặt chữ điền nhị bề râu quai nón viền vòng đai. Nhưng em thấy không? T3 nhận định rất sai về anh Dung. Ông bố nuôi thằng Tam không những nhân vật làm chính trị sáng giá. Còn là nhà văn viết rất nhiều tác phẩm dầy cộm bán đắt tiền, nên có kẻ ghét đã dùng súng ám hại – nhưng anh Dung chỉ bị thương nhẹ ở vai, mất đi mấy cái lông tơ. Nhưng điều mất ở anh Dung, không còn là nhà thơ tác giả Khúc Ca Nhược Tiểu mà T3 in dạo nào. Nước Mỹ, nước thực dụng, giết chết thi ca là rất đúng.
Cháu của Thủy gọi bằng dì, hỏi:
- Dì thấy Sài Gòn bây giờ tráng lệ không? Hơn xưa là chắc, rất nhiều tòa nhà cao tầng chọc trời mấy chục tầng, chẳng kém New York, Washington D.C mấy.
Khi xe băng qua con đường Lê Văn Sĩ (Trương Minh Ký xưa), Thủy nhìn vào ngõ cũ từng ở vào thời kỳ làm ở vũ trường, Đinh đưa đón, nàng bùi ngùi nhớ lại, tự nhủ mình: “Thế nào cũng phải đi Đà Lạt chơi mấy ngày mới được”.
Thủy quyết định ghi danh vào một tour tổ chức đi Nha Trang – Đà Lạt năm ngày. Như chị nàng giải thích, đi một mình không những tốn tiền khẳm, lại không vui. Việt kiều về đây, ngay cả những người trong thành phố cũng thường đi du lịch ngắn ngày, qua các Tours tổ chức. Họ có xe đưa đón, đăng ký khách sạn, có xe đưa thăm danh lam thắng cảnh, nếu đi Nha Trang lại được thăm đảo Yến, tắm biển rồi lên rừng leo núi, cũng là thử sức khoẻ còn dẻo dai, dùng thức ăn đặc sản lạ miệng. Chị Hoa còn cho Thủy biết khi lên Đà Lạt, Thủy cũng có thể báo cho ban điều hành, nàng tách đoàn đi chơi một mình, chiều trở về khách sạn, rất thoải mái. Thủy rất ưng ý, nhưng nàng cũng tiếc là không gặp được T3. Gia đình báo tin, anh đi nằm bệnh viện, từ hai tuần nay, chờ đợi nội soi tuyến tiền liệt. Thủy quyết định trước khi đi Đà Lạt, đến thăm T3. Thủy vẫn thích mặc com-lê đen khi xưa ưa thích, nhưng bây giờ sang Huê Kỳ, ngoài ăn theo thuở, ở theo thì, nàng vận bộ com-lê nhưng màu vẫn là đen. Đẩy cửa ra vào phòng T3 nằm, Thủy chưa kịp hỏi, T3 đã kêu to:
- Bà Thủy, bà mới về sao?
- Lại thăm ông, đem quà của anh ấy gửi. Biết ông đi nằm bệnh viện tôi đến ngay.
(Bệnh viện này xưa kia chỉ là một khu đất trống, tôi nhớ người đi mua đất, dựng nền là bác sĩ Phạm Biểu Tâm. Sau 1975, ông còn ở lại quê nhà và tuy là bác sĩ tài danh, nhưng không còn được giao nhiệm  vụ. Ốm cũng không thể vào nằm bệnh viện do mình đẻ ra, rồi ít lâu sau ông sang Huê Kỳ. Gặp T6, bác sĩ kể chuyện, Thủy mới biết vậy. Bây giờ bác sĩ quá già, và lẫn, gặp bạn bè chưa dễ nhận ra, trí nhớ thần sầu của một bác sĩ tài danh khi xưa, đã bị tuổi già đào thải)
- Anh ấy không về cùng với bà sao?
- Anh ấy bận, dầu rằng rất nhớ anh em ở nhà. Có thể sang năm chúng tôi lại về Việt Nam lần nữa. Bệnh tình của ông ra sao?
- Bí tiểu và chờ nội soi.
- Tôi có nghe chị nói vậy. Tôi không thể nghĩ gặp anh ở bệnh viện, bởi lẽ...
- Khoẻ như vâm chứ gì? Càng khoẻ càng dễ vào gặp thầy thuốc đấy bà ạ.
- Anh có nhớ cô Đào không?
- Đào nào?
- Đào Đà Lạt, con nhà văn Đinh Bù Loong chứ Đào nào?
- Cũng không dễ quên kỷ niệm đi uống cà phê với cô ấy ở Đà Lạt.
- Cô ấy đi với con gái, gặp tôi ở Bolsa. Hỏi thăm anh và khách họ Đinh. Và cô ấy cho biết tuy không biết tin tức anh nhưng cô ấy gặp anh trong một cuốn sách mới in ở bển.
T3 trầm ngâm. Thủy tưởng chừng anh nhớ đến mối tình sớm nở chiều tàn với Đào ở Đà Lạt. Nhưng không, anh nhớ đến bọn lái sách Mỹ gốc Việt ở bên ấy in sách anh vô tội vạ, không trả tiền, không gửi sách tặng mà lại...
- Lại gì? Thủy gặng hỏi. Làm ơn cho tác giả có sách cho họ in ở bên ấy.
- Ít nhất hai nhà xuất bản lớn ở bên ấy đều tái bản sách của tôi. Một lần ông Khai Trí, nhà xuất bản cũ của Sài Gòn như bà biết, sang Huê Kỳ theo diện bảo lãnh, viết thư bảo tôi: hãy đòi bản quyền nơi in sách. Tôi nhận ông nói có lý bởi đó là luật bản quyền quốc tế, từng được ký ở Berne, sách in ra trả ít nhất mười phần trăm bản quyền, và tác giả được hưởng tác phẩm của mình tới sau 50 năm qua đời. Chỉ nói đến nhà xuất bản X.T. Trước hết, ông ta là đệ tử một nhà xuất bản cũ Sài Gòn, tên gọi Phạm Quang Khai.([30]) Lão đại gia này kinh doanh chiến tranh, dây thép gai, khuân đạn dược cho chiến tranh Mỹ bắn ì xèo trên đất nước Việt. Chẳng biết có phải ông ta mớm cho đệ tử cùng làm nghề này ở bên Mỹ sau này không; nhưng qua những năm in lậu, buôn sách; ông đã sắm được một biệt thự khá đẹp ở Trần Quý Cáp Sài Gòn 3 cũ. Theo tên mới, Võ Văn Tần, Phường 6, Quận 3, nơi biệt thự ông ấy tọa lạc. Ông ta trả lời đầu tiên đối với thân nhân của nhà văn Toan Ánh, bị ông tái bản năm sáu cuốn mà lờ bản quyền. Rằng:
- Ông là đại diện cho ông Toan Ánh, nhà văn còn ở Việt Nam?
- Đúng, vậy ông in sách của ông Toan Ánh là bố tôi, mấy cuốn rồi, xin thanh toán bản quyền theo luật bản quyền quốc tế?
- Quốc tế nào?
- Quốc tế là bản quyền theo như hiệp ước bản quyền Berne đối với tác giả có sách in phải xin phép và trả bản quyền.
- Tác giả còn ở Việt Nam, sao lại được phép sử dụng luật bản quyền quốc tế? Việt Nam có ký luật lệ bản quyền với nước nào đâu mà tôi phải tuân thủ.
- Vậy ông in sách, ông không trả bản quyền?
- Đúng. Trái lại, tác giả còn ở Việt Nam có bổn phận đổi đô la gửi sang trả chúng tôi. Tên tôi Lâm Lục Tặc, tiếng Mỹ gọi là Tac Luc Lâm, Giám đốc nhà xuất bản... lớn nhất nước Mỹ.
- Tôi có quốc tịch Mỹ, xin ông ăn nói cẩn thận.
- Tôi ăn nói rất cẩn thận và chính xác. Bởi tôi cũng là người Mỹ. Về luật, chẳng ai biết Toan Ánh, công dân Việt Cộng ở đâu đâu lại sai người đến nước Mỹ chúng tôi đòi bản quyền. Nay, tôi đòi lại ông ấy phải trả cho chúng tôi, lấy rẻ US 500 một đầu sách in ra, Toan Ánh 6 cuốn, số tiền phải trả 500 x 6 = US 3000. Đó là tiền thường cho nhà xuất bản đã in sách của ông ta, quảng bá cho kiều bào Việt Nam trên nước Mỹ cũng như khắp thế giới có người Việt Nam di tản đọc sách Toan Ánh. Tôi cũng xin nói cho ông nghe một thể, dầu mất ít phút thời gian quý báu của tôi. Con ông Nhất Linh nhà văn, tôi cũng chẳng biết ông này còn hay mất, chúng tôi in sách của ông ta, con ông đến đây đòi, tôi đưa US 50, gọi là tiền xe và đây là lần cuối mà ông ta nhận được số tiền này. Đừng đến đây nữa, nhưng nếu còn thắc mắc, xin cứ kiện ra Tòa Liên Bang.
Thủy lắc đầu hỏi:
- Còn anh, có đòi được không?
- Không trả lời thư, và tôi cũng sợ rơi vào trường hợp con ông Nhất Linh và Toan Ánh, nên không dám nghe lời ông Khai Trí, viết thư lần thứ hai. Ông Việt kiều có chỉ cho tôi số nhà và biệt thự của Tac Luc Lam ở Võ Văn Tần. Tôi đi qua, đôi khi thôi, chẳng là đi ăn kem quán cà phê Au Papa; tôi liếc mắt nhìn vào, tự nhủ rằng tôi có một viên gạch góp vào chiếc sân của ông có tên Việt là Lâm Lục Tặc này. Tôi là ân nhân vô danh tình nguyện hiến dâng bóc lột.
- Ai bảo anh viết sách, lại sách có thể có độc giả., người ta mới in, mới tái bản. Chứ tôi thấy nhiều tựa sách in ở Việt Nam, có nhà xuất bản nào ở Mỹ in lại đâu? Tôi định rủ anh đi Đà Lạt chơi mấy ngày theo Tour Khải Hoàn tổ chức, tiếc là anh còn nằm viện chờ mổ.
- Nếu tôi nội soi, phát hiện u ác, tôi theo chân Tổng thống Mitterand ung thư tuyến tiền liệt. Nếu chỉ phát hiện là u xơ phát sinh tự nhiên, làm bạn đồng hành với tác giả tập thơ mang tên THƠ VIẾT LÉN ký K. Wojitila. Bà thấy tôi có cô đơn đâu nào?
- Anh nói đến Gioan Phao Lồ làm thơ, tôi thật ngạc nhiên. Chính tôi là tín hữu Thiên Chúa giáo, tôi chưa biết điều này. À quên, nói đến thơ, tôi mới nhớ, anh T6 gửi cho anh tập thơ Mai Thảo đấy. Chắc là anh sẽ thích lắm.
- Cảm ơn thật nhiều phu quân bà gửi Ta thấy hình ta những miếu đền do nhà xuất bản T2 in. Tôi đã đọc trước ít câu của cậu ấy. Chẳng hạn như:
Đặt tay vào chỗ không thể đặt
Vậy mà đặt được chẳng làm sao
Mười năm gặp lại trên hè phố
Cười tủm còn thương chỗ đặt nào?
Bốn câu thơ cũng hay! Tự nhiên tôi nghĩ bốn câu này cậu ấy định gửi tặng Cúc, mà cậu ấy chưa biết Cúc hiện làm gì ở đâu? Có nhớ Cúc không, lần ở Đà Lạt bà bảo tôi là sẽ giới thiệu với Cúc, vì nàng muốn sang tay đồ second hand. Lúc trước từ này chưa có, nếu phải dịch cho hay như Dacson N. Eustachon đang dự định cho xuất bản Việt Anh Từ Điển; ông ấy sẽ đưa một thành ngữ Việt quen dùng cũ người mới ta. Tuyệt!
- Cúc làm gì ở đâu, anh cho tôi biết, tôi đi gặp nó.
- 8... Nguyễn đình Chiểu (mới), quận 3. Hỏi bà Năm bán cà phê lề đường mỗi sáng. Bà pha cà phê rất tuyệt. Phin của bà loại nhựa cao cấp, Made in Taiwan, dưới có ly nằm trong cốc nhựa. Là phin cà phê nhưng không có nắp thiếc thường thấy, xoáy ốc cho cà phê ép chặt lại sau mới đổ nước sôi. Nghệ thuật pha cà phê như bà Năm diễn giải: Phải dùng một nắp thiếc khác vừa vào phin, khi múc cà phê bột cho vào phin, đậy lại, đè nắp và cho một ít nước thật sôi. Hai  phút sau cho nước sôi tiếp, một ly cà phê đen ngon tuyệt, vừa khẩu vị kẻ sành nghiện cà phê. Nếu không làm như vậy, rót nước sôi vào, cà phê chưa kịp nở, nước chảy qua phin lưới như giọt mưa, cà phê loãng nhạt nhẽo, uống chẳng mùi vị. Xin lỗi khách, uống cà phê như vậy, chẳng khác nào ôm bà già trong tay, da thịt bèo nhèo.
Thủy hỏi thăm Đinh Bù Loong. T3 cho biết lần cuối sau 75, anh nhìn thấy Đinh đi bộ từ Phan đình Phùng, rồi băng qua Nguyễn Bỉnh Khiêm. T3 không thể gọi bạn, bởi anh đang đi trên xe buýt, không phải cương vị khách bảo xe dừng lại. Anh đang hành nghề phụ xe, đúng cửa sau, chuyển hàng, mở cửa, đưa khách lên xuống. Hôm ấy Đinh mặc chiếc áo sơ mi ngắn tay, đầu cúi xuống nhìn chân bước tới, dáng trầm ngâm. Thân hình to lớn, dáng đi nặng nhọc, hai tay chẳng có gì, thong dong như khách nhàn du. Và từ đó, không bao giờ T3 gặp lại Đinh cho đến khi anh nhận được tin một người bạn cùng Trại Cải Tạo về cho hay: Tác giả Bên Kia Bến Hải không còn nữa.
Cúi đầu, Thủy đưa tay lên giụi mắt. T3 biết nàng chiêu niệm Đinh. Qua phút mặc niệm, T3 tiếp:
- Người báo tin cho tôi biết cũng là một nhà báo. Anh này là con rể Chu Tử, anh em cột chèo với họa sĩ Đằng Giao. Tên anh là Phan Nhự Thức. Tôi chỉ quen sơ giao qua vài lần gặp ở nhà Đằng Giao. Anh từng là nghị viên Hội đồng tỉnh Quảng Ngãi nên được xuất ngũ. Bởi luật pháp Việt Nam Cộng Hòa hồi ấy, quân nhân trúng cử dân biểu, nghị sĩ, Hội đồng tỉnh, thành phố, thị trấn, xã, vv... đều được cởi áo lính. Cũng như thời Tổng thống Diệm, đệ nhất Cộng Hoà, hôm nay binh nhì, sĩ quan... mua xổ số mười đồng, xổ vào chiều thứ ba, qua giọng hát ngọt ngào khuyến mãi mua vé xổ số của Trần Văn Trạch, chẳng may trúng độc đắc một triệu đồng – ngày mai anh được giải ngũ. Nên người có tên Phan Nhự Thức, cùng trại cải tạo với Đinh Bù Loong, trúng cử Nghị viên, thôi mặc áo lính – sau 30 tháng tư, lên đường trình diện học tập 10 ngày. Năm bẩy năm sau, anh được ra trại, giấy thả tù đem nộp theo đơn xin xuất cảnh, diện H.O. Lòng mừng thầm, ngày mai anh sẽ đến Thế Giới Tự Do, nước Mỹ huy hoàng. Ngày phỏng vấn, gặp phái đoàn Mỹ, nhìn giấy ra trại, người Mỹ hỏi:
- Ông có phải là quân nhân Việt Nam Cộng Hòa?
- Phải.
- Cấp bậc?
- Trung úy.
- Tại sao ông lại được giải ngũ?
- Bởi tôi trúng cử Nghị viên Hội đồng tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông có đi học tập?
- Có.
- Bao nhiêu năm?
- Sáu năm, bảy tháng, hai mươi mốt ngày.
- Qua những trại nào?
- Từ trong Nam ra đến Bắc.
- Trại cuối cùng được tha?
- Trại Tân Lập, Vĩnh Phú.
- Giấy tờ ra trại này có là thật?
- Sao ông hỏi như vậy?
- Bởi có điều cần xác minh.
- Ông cho biết lý do của xác minh?
- Thật dễ trông thấy, ông nhìn ngày tháng xuất trại.
Bây giờ Phan Nhự Thức mới để ý đến giấy ra trại của mình, ngày 30 tháng 2 năm 199...
Người Mỹ cười tủm hỏi:
- Ông thấy lý do cần phải xác minh lại rồi chứ? Dưới mắt tôi, giấy này tôi coi như ông đi mua lại.
- Tại sao?
- Bởi gần hai mươi thế kỷ sắp trôi qua, chưa có một tháng Hai nào có ngày thứ ba mươi.
Phan Nhự Thức ra về lòng buồn rười rượi. Phái đoàn Mỹ khước từ cho anh xuất cảnh theo diện H.O. Lý do: giấy tờ giả mạo, như dẫn giải.
Thủy hỏi:
- Anh ấy có khiếu nại không?
- Điều này tôi không biết. Tôi không phải quen anh là bạn, chỉ  biết anh qua bạn của tôi, anh Đằng Giao, anh em cột chèo với anh. Nhưng ít lâu sau, tôi nghe tin có người đi đưa tang con rể nhà văn, chủ báo Chu Tử. Là ai? Hỏi tên: Phan Nhự Thức.
Tôi vẫn bán tín bán nghi, đến nhà họa sĩ hỏi cả hai vợ chồng Đằng Giao và Chu Vị Thủy. Cả hai xác nhận: Phan Nhự Thức qua đời là sự thật.
Thủy giã từ T3 với lời cầu chúc:
- Chúc bạn ta nội soi với kết quả u xơ phát sinh tự nhiên. Ngày mai tôi đi Đà Lạt, xin phép bạn ta cho tôi coi như có bạn cùng đi. Để nhớ lại hơn ba mươi năm xưa, tôi và bạn cùng đi – những hai lần đến Đà Lạt, xứ hoa đào.
   Đà lạt 1966 - Sài gòn 1998




[1] Nhn din vóc dáng nhà văn Nguyn Đức Qunh ca TP. (Saigon 1963)
[2] My phu nhân ghen chng có v bé, nhi li thành “Chiu đi phá gia cang”
[3] Thơ làm ln dy con người, thơ TP ( Saigon 1964)
[4] Piste, sàn nhy.
[5] Tin ca Ngân Hàng Quc Gia Vit Nam, giy bc 500 đng in hình v Đức Trn Hưng Đạo. Nên gi tt tin là đc.
[6] Tên mt qun lý được M c vào kim soát tài chính mt tp chí văn ngh do M chi vin.
[7] S.E Phm Qunh (Ministre de l’Intérieur) Le Capitaine DO HUU VI – Nxb Alexandre de Rhodes, Hanoi 1944.
[8] Sau nhiu ln vượt biên, ln chót V Ý ti M. Khong 1986-87 gì  đó, ha sĩ  bc ghế treo tranh, ghế đ, ha sĩ ngã xung, đu đp xung đt. Và qua đi. Cũng vn đc thân cng rn, ra đi không v không con.
[9] Jean Paul Sartre (1905-1980), văn sĩ triết gia hin đi Pháp ni tiếng được gii văn chương Nobel 1964, nhưng ông t chi không nhn.
[10] Thi k 1964, khi viết truyn.
[11] Tuyn truyn Thế Phong, Hoa Phương Đông, Saigon 1960.
[12] M ... và mt phn trong Hai, Ba trích li trong Thy và T6 ca tác gi ( Saigon 1968).
[13] Nickname = sước danh.
[14] Trích li trong Nhà văn, Tác Phm, Cuc Đời ca TP – Bn in vào 1966 (NXB Đại Nam Văn Hiến).
[15] Bánh mì kp tht, hoc bánh mì không, rc nước tương.
[16] Thánh Ca, bài s 261 và 430 (Hi Thánh Tin Lành VN).
[17] Vie de Pouckhine, Ed. Spes, Paris 1946.
[18] Tái dch t Anh sang Vit thêm ln na, tt nhiên là tam sao tht bn. Bi, đến nay chưa tìm ra được tp thơ ca tác gi in Sài Gòn, thp niên 60, có bài thơ gc tiếng Vit.
[19] Bài thơ sáng tác, t gi ý nơi bài “Hãy cho anh khóc bng mt em/ nhng cuc tình duyên Budapest” ca Thanh Tâm Tuyn.
[20] Tp chí Văn, Saigon 1974.
[21] Hàn Mc T, Quách Thoi – nhà thơ siêu thoát ca TP (Đại Nam Văn Hiến Saigon.1965).
[22] Vào làng cm bút, Toan Ánh – NXB Văn Hoá Thông Tin, Hanoi 1993.
[23] Thánh Kinh, II Samuên, 11: 2-5
[24] Thánh Kinh, Thi Thiên 51, 3b-5.
[25] Người đnh giá.
[26] Mt tên vô liêm s hàng đu ca vô liêm s.
[27] Theo Nguyên Sa (Ngh sĩ Vit Nam hi ngoi, Irvine 1993).
[28] Đôi Kính, Đinh Xuân Cu (Đại Nam Văn Hiến, S. 1964).
[29] A Bright Shining Lie, John Paul Vann and America in Vietnam, Vintage Book’s, A Division of Random House, New York 1985.
[30] Tên tht Phm Quang Khi, dòng h Phm Lương Đường (Hi Dương). Di cư vào Nam, vn theo đui ngh vn ti. Nh mua được my chiếc xà lan cũ, phc hi li; gp lúc quân M ào t vào Min Nam (1965) trúng thu ch quân c cho M vào Cam Ranh; phát tài có ngày li tin triu. Cu hc sinh trường Bưởi , được bu làm Tng thư ký Hi ái hu Sài gòn, m nhà xut bn Phm Quang Khai, khi s vi 2 triu đng giao cho ông Kình qun nhim; chn sách in là Lãng Nhân Phùng Tt Đắc. 1984 sang M. (Theo Nh nơi k ng ca Lãng Nhân – Ziên Hng, USA 1997).

0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ