Thứ Năm, 11 tháng 1, 2018

về thi sĩ, văn nhân tiên phong thanh tâm tuyền [ i.e. dzư văn tâm nghệ an 1936- 2006 usa ] -- blog phan nguyên





Sunday, 18 December 2011


Thanh Tâm Tuyền (1936 - 2006)




















Thanh Tâm Tuyền

tên thật: Dzư Văn Tâm
bút hiệu khác: Đỗ Thạch Liên
 13/03/1936 (Vinh) - qua đời  lúc 11g30 ngày 22/03/2006 (Minnesota)
hưởng thọ 70 tuổi

nhà thơ, nhà văn


 số đặc biệt về nhà thơ thanh tâm tuyền 

bán nguyệt san văn (saigon) 
















Sẽ chết như sao rơi vào bất tận

Sẽ mãi yêu như giọt nước hân hoan

Thanh Tâm Tuyền













                                                                                                                    
bút tích Thanh Tâm Tuyền











Thanh Tâm Tuyền là một trong những nhà thơ khởi xướng phong trào Thơ Tự Do tại miền nam Việt Nam với tập thơ Tôi Không Còn Cô Độc xuất bản năm 1956. 
Ông vào Nam khi còn rất trẻ. 
Chủ trương nguyệt san Lửa Việt năm 1954. 
Sau đó cùng với nhà văn Mai Thảo thành lập Tạp Chí Sáng Tạo từ 1956 đến 1960.
Nhập ngũ năm 1962 và trở thành sĩ quan cấp úy trong quân lực Việt Nam Cộng Hòa.
Bị bắt học tập cải tạo 7 năm sau 1975.
Rồi được thả và đi định cư tại Hoa Kỳ theo diện HO năm 1990.
Ông qua đời tại Minnesota năm 2006 vì bệnh ung thư phổi.
Hưởng thọ 70 tuổi





















                                                                                                                                 











Những bức thư gửi cho ... hòn đảo xa



"Mượn Dấu Thời Gian" xin phổ biến các đoạn trích từ những bức thư của Thanh Tâm Tuyền viết những năm 1972, 73, 74 và 1982 gửi cho một ... hòn đảo xa, nơi tác giả tự ví mình như một Crusoé thất lạc.
"Mượn Dấu Thời Gian" xin thất lễ với người đã khuất khi phổ biến những đoạn thư khá riêng tư. 
Việc làm này không ngoài mục đích cung cấp cho các nhà biên khảo và phê bình văn học, cũng như những người yêu mến ông, một khía cạnh khác của chân dung nhà thơ. 
Từ phía đó, một số tác phẩm của Thanh Tâm Tuyền đã như "sao rơi vào bất tận" trên khung trời văn học Việt Nam.










*







Công bố ngày 22/03/2012



                                                                                                                           





Những đứa trẻ của Dickens

17.2.1973
Em và anh thuộc loại máu lạnh ở xứ nóng không hợp thật. Mấy ngày em ở Sài Gòn, tuy nói với em là vẫn làm việc nhưng anh chẳng làm gì cả. Làm mấy bài thơ thì có. Lúc nào anh cũng ngóng, biết em không đến, nhất là hai bữa cuối trước ngày em đi. Em đi lần này không có anh đưa. Giả thử anh có đưa chỉ làm em nặng thêm, máy bay nặng thêm. Bữa ấy - chắc là có cô H.A đưa ra đến Phạm Ngũ Lão - có thấy nhẹ không?

Ngồi trước mặt em, anh thật chẳng hiểu mình ra sao, mình muốn gì. Bởi anh toàn nói bậy không. Lúc nào anh cũng cứ nghĩ chẳng nên làm em buồn, hãy cùng vui lúc bấy giờ. Nhưng cái vui anh gây ra cũng tệ. Anh tự hỏi : tại sao đối với em, anh không làm như với những người khác, hay bình thường là hai kẻ yêu nhau, như mọi người. Bữa em hỏi anh có sợ em không, bây giờ anh thấy có lẽ anh sợ em. "Sợ" như cái mặc cảm anh biết bắt rễ tự nơi anh ngày nhỏ:  không bao giờ anh có được cái mà tất cả mọi người đều có. Đứa trẻ bất hạnh mồ côi ra đời quá sớm mà. Nó chỉ nhìn đồ chơi bày trong tủ kính, nhìn đồ chơi những đứa khác chơi, nó chẳng có, chẳng ai nghĩ đến cho nó. Em có biết anh đọc Le Petit Chose năm nào không? Năm học lớp ba và từ xửa xưa đó anh đã thấy nhân vật đó là anh rồi. Những đứa trẻ của Dickens đều vậy, lớn lên khá hơn nhưng rốt cuộc vẫn khốn đốn vì yêu người.

Cháy

Thoáng một ngày mưa lạ xong Sài gòn lại theo nhịp cũ. Nắng kinh. Nắng gợi cho anh cái ý một truyện ngắn: tình yêu bị nắng Sài Gòn đốt cháy tiêu. Bữa qua cũng đã loay hoay, ngồi quán gần nhà in, định viết cho em lá thư nữa, xong ồn quá lại đứng lên đi tìm bạn hẹn nhậu.
.............................................................
Trong khu vườn của tòa nhà phía trong chỗ anh làm việc em chưa vào tới, anh đã đi dạo thẩn thơ hoài dưới bóng cây xuyên đầy ánh trăng. Đã bảo em làm anh thành "poet" mà. Độ này thao thức nhiều, đầu cứ bạc mau thêm, hè em về chắc thấy anh tóc trắng xóa chưa biết chừng.

Flamme seule, je suis seul
Bruler seule, rêver seul
Grand symbole, double symbole incompris
Le premier pour la femme,
toute brulante, doit rester seule, sans rien dire;
Le second pour l'homme taciturne qui n'a qu'une solitude à offrir.

Trong một đêm anh đọc đoạn trên trong một quyển sách mỏng của Bachelard, chép lại cho em đọc đỡ buồn. Câu đầu là thơ của Tzara. Đoạn sau quãng diễn của Bachelard - philosophe già, tóc trắng xóa, tâm trí thơ mộng vô cùng. Anh có ý lấy đoạn này để cho Mắt Bão. Em thích không ?


Mắt Bão

Sài gòn, 8.3.1973
Thư trước báo cho em biết đi dậy học từ ngày 15.2, thư này báo đã bỏ dậy học 28.2. Bất định quá. Vào lớp chán quá, mặc dầu được học trò thương. Chắc anh khó có thể trở lại nghề cũ. Xem bộ anh thấy mình khá hơn xưa : chẳng còn cần đến những ánh mắt, nụ cười ngưỡng mộ tôn kính nữa. Khỏi khoác một bộ vó chẳng ra gì. Chẳng hiểu đúng không? Hết là thứ "ông giáo làng" phải không em?

Còn gì nữa ? Anh nghĩ đến Mắt Bão. Hồi đầu anh tưởng tượng người đàn ông chết, người đàn bà mất tích. Hôm qua anh tưởng tượng câu chuyện sẽ được kể lại sau khi người đàn ông chết bằng chính người đàn ông. Trước mặt mọi người, người đàn ông chết hẳn hòi, có đám táng linh đình, đông đủ bà con thân hữu. Nhưng đó là trò lừa của hai người. Sau khi người đàn ông đã chết, do người đàn bà giết, hai người trở lại ngôi nhà cũ bên hồ trong những ngày cuối cùng của cuộc đời nhìn lại quãng đã qua. Chương mở đầu gọi là Hẹn nhau sau khi chết. Anh còn đang phân vân nên để cho người đàn bà đến nơi hẹn chăng. Hay từ đầu chí cuối quyển tiểu thuyết là sự chờ đợi. Bởi khu nhà của người đàn bà ở trong cái khu như cù lao phía bên kia hồ.

Hồi anh viết Cát Lầy, anh đã có ý ấy nhưng sau bỏ vì nghĩ nó tàn nhẫn, trêu cợt người ta quá. Trong Cát Lầy, Người đàn bà tên Thuận tự tử nằm bên trong ngôi nhà khóa trái cửa một đêm giông mà Trí kêu gào bên ngoài trước khi ra bến xe đi với Diệp sáng hôm sau, thực sự không chết. Anh định kết Cát Lầy bằng đoạn Trí tìm thấy Hiệp và Thuận ở nơi khác, lại đến thăm ngồi với hai người này một buổi tối, xong mới đi hẹn với Diệp, nhưng rồi sau anh bỏ ý ấy, "kỳ" quá phải không em ? Vì Trí còn trẻ, Diệp còn trẻ
.........................................


Sinh Nhật

13.3.1973
Hôm nay sinh nhật anh đây. Nhận được một lúc 3 thư. Mở đọc chẳng biết cái nào trước cái nào sau. Đọc ào ào. Rồi chiều đọc lại. Coi như món quà mừng. Yên tâm vì thư không thất lạc. Mình đã là thứ thất lạc rồi, mà thư của mình thất lạc nữa thì là thất lạc của thất lạc...
Chỉ biết hôm nay sinh nhật, anh đến ngồi hai buổi ở sở. Không làm gì. Nghe những chuyện lẩm cẩm chật ních cả hai tai. Buổi sáng gặp một anh chàng làm thơ trẻ ngoài Pagode, hắn cho biết mới ngã ngửa ra là hai câu thơ "trời còn đêm nay còn mãi mãi" mà anh tưởng không có đoạn tiếp hóa ra anh đã làm một bài từ hồi nào, có đăng rồi mà quên ....... 


Gối đầu lên đám bèo

14.3.1973
... Anh kín mít bởi lẽ đúng anh không được phép nói bất cứ một điều gì nữa. Mai Thảo hắn bảo với anh như vậy, hôm tối thứ bẩy. Hắn nói khi anh tới sát bờ vực, xong anh lui lại trong khi có những người nhắm mắt đưa chân tới thì anh không còn quyền để nói, không được nói bất cứ điều gì. Bởi rõ ràng anh còn và người khác thì đã mất. Hôm ấy anh thật say, anh ứa nước mắt, chảy nước mũi ròng ròng. Anh cười, anh thua nó, anh bảo je suis la^che, c'est comme ca. Nhưng thật ra anh khóc mùi. Chạy xe về trong phố đêm anh vẫn còn thấy nước mắt mình ròng ròng. A, đây là lần thứ ba anh khóc trước mặt người khác. Mới đầu, hình như bao giờ cũng vậy, với ai anh cũng tưởng anh phải chăm lo cho kẻ ấy - kể cả Mai Thảo - anh sợ người ta sẩy chân, nhưng sau cùng hóa ra chính anh là kẻ bám víu vào người ta. Tối hôm thứ bẩy, Mai Thảo nó nhất định không bỏ dở câu chuyện, nó nhất định phanh phui đến cùng, nó nhất định ném anh đứng trơ vơ ra đó, nó bắt anh thú nhận rằng anh không hơn nó, anh đừng có giọng kẻ cả, "đắc thắng". Người thứ ba trong bàn là Phan Lạc Phúc chịu trận hai thằng như chịu hai tên khùng. Nhưng dường như anh cũng sung sướng, mãn nguyện, biết rằng thật ra mình chẳng là cái gì, chẳng ai cần đến mình, mà chính mình nhu nhược cần đến người khác quá nhiều.
.............................................................
Viết kể với em, lúc này anh nhớ đến một câu thơ của Milozs : Je suis plus mort que les morts de Lofoten. Nhảm. Mai Thảo nó bảo: ca, c'est de la littérature, sống không như vậy. Điều đó chính anh vẫn nói. Anh cũng chẳng hiểu tại sao lại mang kể cho em? Có lẽ cũng chỉ cốt để nói hình như anh cũng đang bám víu vào em. Một kẻ chết đuối bám vào một kẻ chết đuối. Nguy hiểm. Em hiểu tại sao nhiều lúc anh muốn thôi viết cho em - có thể sau thư này - anh bất định quá.

Mới đây, Nguyễn Mạnh Côn kể với anh về cái lần hụt chết của anh ta. Đó là bữa anh ta bơi ở Hồ Tây, bị vọp bẻ cứng cả tay chân, anh ta lật mình nằm ngửa coi như xong, không ngờ thế nào lại gối đầu lên được một đám bèo. Nhờ đó mà anh ta thoát chết. Anh quen với anh ta cũng đã lâu, nhưng rất ghét không ưa trò chuyện với anh ta bao giờ - sở dĩ có cuộc nói chuyện lần này vì anh ta viết cho Tập San Quốc Phòng anh phải đến nhà lấy bài ................
Em thấy không, chỉ một đám bèo giữa hồ rộng và người ta sống. Dễ sợ. Mình là đám bèo của nhau. Lúc này anh chỉ còn tin là em là kẻ duy nhất nghe được những gì vang động nơi anh. 
Đó khúc nhạc của mình đó, em yêu.



Hậu sinh nhật

21.3.1973
Sinh nhật anh 13 không phải 15. Anh mang con số xui mà, không hiểu ngày ấy có phải là thứ sáu không ? Nếu phải là vendredi nữa thì hết nói. Đâu được như em sinh vào ngày rằm trăng tròn. Tháng tới sinh nhật em đây, đúng chưa? Hôm qua thấy xổ số ra đúng ngày sinh nhật em, chỉ tiếc về Sài Gòn chẳng chịu đánh số nữa. Không thì đã trúng.

Chủ Nhật đang ngồi viết Một Chủ Nhật Khác cho Mr Khoan, thật ngon trớn, chiều ngồi vào bàn đột nhiên quyết định dứt ngang xương. Mọi người sẽ chưng hửng. Kể cả tác giả của nó. Có lẽ tác giả bí. Cứ viết truyện tình là y như bí. Kéo lòng dòng chẳng biết đi về đâu. Bèn chấm một cái. Cho xong đi. Nhẹ người. Mang cất vào một chỗ những cái còn lại cho riêng mình nhấm nháp như bữa nay chẳng hạn. 

Mới đó trời đã xập tối. Thật mau. Mùa mưa sắp đến. Hình như hôm nay còn trăng. Chốc nữa anh lại ra ngồi ngoài bệ đá, dưới bóng cây. Cứ thế thôi. Mắt bão mà. Mình tự làm ma nhát mình chơi. Vì chẳng còn cái gì khác có thể nhát mình nữa có chán không ? 
....................................................................................
Có lẽ mùa mưa sắp tới. Mấy chiều nay trời xỉn khác lạ. Mùa mưa Sài Gòn dơ bẩn nhưng còn dễ chịu. Anh rất thích những trận mưa ở đây. Ào ạt rồi thôi. Không dầm dề, nẫu người như mưa Huế và cũng không hung dữ như mưa Đà Lạt. Những trận mưa núi thật tán đởm. Vậy mà em tưởng tượng hai năm trên ấy đã nhiều lần anh chạy xe gắn máy trong mưa như vậy. Cả trong đêm nữa. Nghĩ lại bắt rùng mình, nhưng sướng vì chạy trong một trận mưa như vậy mình như thể tan thành nước, thành bão chẳng còn một chút nghĩ ngợi nào.


Phan Thiết, chân dung tự họa

20.11.1973
Quyển thứ hai anh bắt đầu viết là chuyện về một thành phố "hạnh phúc" khuất náu, gần biển với khá nhiều nhân vật ngồ ngộ : một con bạc nhà nghề, một cô nữ quân nhân, một nhà nghệ sĩ trẻ tuổi của thời đại, người đàn bà được "bao", một cặp đào kép cải lương nổi danh và những nhân vật của thành phố ấy. Anh nhớ Phan Thiết  nơi anh đã sống khoảng một năm khi anh từ Bắc vào, sau đó mới di cư dần vào Biên Hòa rồi Gia Định Sài Gòn. Đó là cái thành phố lạnh nhạt không ai ghé chơi, không biến động. Quốc lộ 1 chạy ngang nhưng thiết lộ thì không. Tàu đến ga Mường Mán rồi từ đấy  những người đi Phan Thiết phải chuyển tầu đi khoảng ngót 30 cây số nữa, nếu anh nhớ không lầm. Anh từ Hà Nội vào đến ga Mường Mán lúc nửa đêm. Anh nhớ mãi. Thành phố ấy có Bích Khê và có bài Lầu Ông Hoàng của Hàn Mặc Tử với những câu như: Ôi một trời Phan Thiết, Phan Thiết. Mà tang thương còn lại mảnh sao rơi. Ta đến nơi nàng đã mất lâu rồi. Nghĩa là chết từ muôn trăng thế kỷ. Thành phố có con sông Mường Mán, cây cầu Mường Mán ngăn đôi thành phố: khu buôn bán bình dân với chợ và khu hành chánh với nhà ga. Có hai bãi biển tắm. Bãi Tây và bãi ta. Nơi ấy anh hút những điếu thuốc lá đầu tiên năm 8, 9 tuổi khi được thả rong chơi với một thằng bạn tây lai "ma cà bông, ma cà cúi, lúi húi đầu chợ". Nơi ấy anh bị lột trần truồng đuổi ra khỏi nhà và nhất định bỏ nhà đi. Nơi ấy anh xem cô Phùng Há đóng Mạnh Lệ Quân thoát hài. Nơi ấy anh chứng kiến tấn tuồng đứa con trai mới lớn - con của người đàn ông lấy mẹ anh - tằng tịu với chị người ở nhà hàng xóm. Nơi ấy anh nghe lứa tuổi lớn hơn hát One Day, Suối Mơ ... Nhiều, nhiều chuyện không thể kể hết. Chót cuối là nơi ấy khi anh leo lên chiếc xe vận tải để vào Nam theo mẹ, anh được một đứa bạn gái ở gần nhà tặng một bộ bài - anh nhớ anh gọi là bài "học trò" vì có một cây mang tên ấy - hao hao như bài tam cúc - khổ nhỏ hơn tam cúc nhưng lại lớn hơn bài tứ sắc - đặc biệt bài in có hình vẽ nhưng chỉ có trắng và đen không có mầu như tam cúc và tứ sắc. Thường ngày anh vẫn chui sang chơi bài với nó, nó học trường nhà nước anh học trường tư - tạm bợ mà. Đó là món quà đầu tiên trong đời anh. Anh chưa biết đặt tên quyển tiểu thuyết này là gì. Hoặc là anh sẽ cố tả anh qua thành phố, không qua người.


Tự truyện

24.11.1973
Sáng nay anh nẩy ý có lẽ rồi anh viết tự truỵên. Vì em đấy. Chưa biết lúc nào thực hiện, có thời giờ thực hiện không. Nhiều lúc thì trống huếch trống hoác, nhiều lúc thì nghẹt ứ dồn cục. Anh có biết bao điều muốn làm. Rồi anh bỏ cho trôi qua. Với em bây giờ, anh ráng bình tâm làm việc dần dần. Tự truyện của anh chắc chắn miên man không thể tưởng. Có thề là bộ sách dầy. Có lẽ vì thế mà anh ngán chăng? Hoặc vì từ trước đến nay chẳng ai đếm xỉa muốn biết, anh cũng thấy chẳng cần cho ai biết? Anh muốn phanh phui với em lúc này chăng? Có lẽ, chắc thế. Cứ ném từng mảnh đầu Ngô mình Sở làm em chẳng thấy đầu cua tai nheo đâu. Anh sẽ viết, khi anh có thời giờ, dần dần ngày một hai trang cho đến bao giờ dứt thì thôi. Đó không phải là một công cuộc đáng chú tâm? Anh trở lui, đúng nghĩa, trở lui để em thấy. Anh đã thấy quyển thứ nhất sẽ được dành cho những năm đầu cho đến khi bố chết - năm đó mới có sáu tuổi. Ghê chưa. Ngán quá. Không hiểu đủ kiên nhẫn không? 
Em có ngại đọc những sách dầy kiểu đó không? Có khi anh cốt "hù" em chơi, đừng sợ.


Chuyến du hành mùa đông

9.1.1974
Anh vẫn cố trụ tâm viết quyển sách thứ hai cho nhà xuất bản mặc dầu nhà xuất bản vừa điện thoại cho biết "tương lai đen tối"  lắm. Lúc ký hợp đồng anh tưởng mình là kẻ bội ước, lo ghê chỉ dám hứa 1 năm, cái điệu này thì chính nhà xuất bản bội ước chứ không phải anh. Anh thế mà giỏi. Phải không? Anh đã tạm ngưng cái tiểu thuyết về anh chàng đánh bạc rong và cặp đào kép nổi tiếng, từ một tháng nay anh viết lại "Chuyến du hành mùa đông" viết hồi còn trên Đà Lạt, trước khi gặp em, mà một đoạn là "Đêm gió" trích đăng hồi xuân Nhâm Tý ở Văn mà em đã đọc. Anh viết như kẻ lẩn thẩn, sau cơn say cứ ợ chua mà không chiụ nuốt ngồi nhai nghiền lại những đồ ăn đã nát ngướu. Chỉ làm thơ là sướng thôi. Và viết kịch nữa.


























Vẫn em

Thơ tình ở Sài Gòn

Vẫn em đồi trăng phơi mờ hoặc
Tóc buông giải thẫm xóa canh thâu
Vẫn em rừng lũng khuya trốt lộng
Ngút đen mắt lạc ruỗi tin trăng

Vẫn em đồng sông sao trời lạ
Phập phồng tan nát lượng thời gian
Vẫn em dáng cây nghiêng nẻo khuất
Sương muộn ham mê thức lá buồn

Vẫn em ngực thở vùi cơn bão
Trải niềm không, xô sát niềm không
Vẫn em trận mưa giông vách núi
Mở buốt mông lung cửa đất trời

Vẫn em thoáng trắng mây hiền hậu
Ngẩn ngơ soi mặt biển điêu linh
Vẫn em đóa quỳnh run hoảng nở
Hương thầm choàng riết cõi đêm ta
21.4.1973





Thơ tình trong tù, Vĩnh Phú - K2. Tân Lập

Vẫn em của thuở trăng nào
Đêm hôm nở đóa chiêm bao xanh ngần
Vẫn em tình của trăm năm
Đoan trang nét hạnh thâm trầm dáng thơ
Vẫn em mối kết thiên thu
Vẫn em xoa dịu sầu tư cõi này
8.1980





Tình ca

Tình ca của người tình của Cu Nghệ

Sự trôi chảy không ngừng nghỉ không dời đổi
Trở về mãi mãi những đêm xuân
Hạt máu đọng thời gian ngủ ngoan qua mùa đông
Đừng sợ, đừng sợ con sẽ lớn lên sau những nụ hôn lạnh lẽo phản bội


Tình ca của đảo

Tình tôi như đốm lửa xanh xao huyền hoặc
Anh, gió khô khan độc địa không ngớt vùi dập
Ôi gió tối tăm gió gầm trời nào
Thổi bùng thành đám cháy không thể tắt
18.4.1982
















Công bố ngày 11/03/2012


                                                                                                                              






Hậu đường ngôi nhà mặt tiền

15.9.1972
Chiều viết cho em xong lá thư, định ra phố gởi thì trời đổ mưa. Nghe tin bão. Ngại không buồn đi, nhờ một người đi qua bưu điện bỏ hộ. Không rõ em có nhận được chưa? Mưa tầm tã. Ngồi mãi Hội Quán định trở về phòng viết tiếp thư vì nhớ dường như nói còn sót ý, anh Cường sang chơi, khen mấy bài thơ đăng trên Văn. Anh ngạc nhiên hỏi sao biết là thơ của anh thì bảo trông thấy tên. Anh chưa thấy tờ báo nhưng như thế chứng tỏ là Mai Thảo đã không làm theo ý anh, ký tên thật một tiếng thôi. Anh đoán chừng ý Mai Thảo hắn không muốn anh đổi tên vì muốn cột anh vào luôn với hắn không cho anh thay đổi và có lẽ cũng nghĩ như mọi người là anh nhát sợ hoặc tức giận những kẻ thường công kích mình mà tự chối bỏ. Em nghĩ thế nào về chuyện này ?

Chính khi ghi chép bài thơ Ngôi nhà đỏ, anh đả có ý bảo em chọn lấy một tên lạ nào đó ký, rồi gửi cho anh từ ngoài vào (với điều kiện không phải chữ em chép vì chúng cũng có thể nhận ra) để anh xem thử bài thơ được tiếp đón thế nào. Anh không ngờ em đã "khổ" vì bức điện mấy chữ. Ngay hôm ấy anh cũng đã ra bưu điện, tính đánh trả lời : OK, comme tu voudras ngay nhưng đến nơi lại bỏ ý định. Anh cầm cự ghê lắm, nhớ là những lúc anh cầm cự thường làm em tức. Nhưng tức thì chuột nhắt ráng chịu.
   
Anh bảo em nên lúc trống trải thử viết một quyển tiểu thuyết. Tốt nhất một quyển tiểu thuyết không phải về mình. Như thế sẽ cần chăm chú, theo dõi người khác và sẽ quên được mình rất nhiều. Anh nghĩ thế và hiện anh đang sửa soạn làm vậy. Anh tin chắc là anh sẽ thành " nhà văn lớn" mà.

Mưa cũng đã tạnh. Anh viết thư này cho em, trong yên tĩnh. Mấy lá thư kia đều viết trong giờ làm việc, có người ra vào. Anh cũng chịu anh không thể tưởng tượng ra em đang làm những gì ngoài ấy. Đúng là đảo xa mù mịt trông chẳng thấy bóng.

Anh đang mong em đã nhận được thư trước của anh và cũng đang viết trả lời anh. Chịu khó viết nhiều cho anh đọc. Chừng nào biết đích xác ngày về Sg anh sẽ đánh điện báo em rõ, lúc ấy em hãy ngưng gửi thư về địa chỉ này. Nhớ chưa ?


Ngôi nhà đỏ, bis

2.10.1972
Anh vừa qua một ngày đầy, đầy thật đầy. Hiếm. Đầy mà không thấy mứa. Không phải "blue monday" mà là một ngày thứ hai đủ màu. Sáng vẫn dậy sớm như thường lệ. Đầu đau ê ẩm. Nhớ hồi 11 giờ đêm qua, Hải đập cửa phòng mang bánh mì về gọi dậy ăn. Nín thinh làm bộ ngủ. Bụng vẫn ọc ạch. Ngồi lầm lì trước bàn không buồn rửa mặt ngay như thói quen. Hải dậy sớm, săn đón, tưởng giận vì chuyện hắn về muộn bỏ đói hôm trước (đâu có biết mình được mời ăn cơm ngon). Vẫn cứ lầm lì chẳng buồn mở miệng. Nhưng thay vì thường lủi thủi xuống Hội Quán một mình thì nhẩn nha ngồi đợi hắn. Hắn không biết anh đang rượt theo hai cái âm "đuối nhớ, nhớ đuối". Mang theo xuống Hội Quán quyển Espagnol cũng chẳng thèm mở đọc. (Ngày 26.8 em lên Đà Lạt anh đã đọc đến bài số 18. Bây giờ anh đến bài 20. Cứ mấy bữa rượu, mấy bài thơ theo ám hoài). Tưởng ngày bắt đầu như vậy kể như hư rồi.

Trở về phòng làm việc, ngồi vào bàn làm việc là bắt đầu "đuối nhớ nhớ đuối". Tất cả công việc của anh trong một ngày là buổi sáng đọc mấy tờ báo, kiểm tin. Nhưng sáng nay báo không có chỉ vì lẽ ngày chủ nhật nhân viên phụ trách đi lấy báo đùn nhau rốt cuộc người nọ tin người kia chẳng ai lấy cả. Không phải đọc báo hàng ngày đã sướng, nhưng sướng hơn là vì không có báo nên phòng đỡ đông chật các bạn đồng nghiệp đến xem ké vào buổi sáng. Thảnh thơi đóng cửa mà "nhớ đuối". Làm được đâu 3,4 khúc cái bụng lại ọc ạch róc rách. Nhớ thư viết hôm qua đã dán chưa gửi. Mượn xe Jeep, một mình ra phố. Ghé bưu điện bỏ thư. Ghé tiệm thuốc mua một ống Direxiode. Xong trở về lại ngồi vào bàn. Làm xong bài thơ chưa hết buổi sáng. Đi dạo một vòng, uống thuốc chặn bụng. Về ăn cơm với vợ chồng người bạn không con.

Trở về phòng ngủ, yên bụng. Trong giấc ngủ nghe lại những thanh âm của vài câu chưa ổn. Thức dậy, ngồi vào bàn ...

Ngôi nhà đỏ đồi trăng hồng đuối nhớ
Thở hơi sương run rẩy. Ngã trong trời
Nhòe gió bấc, ngựa mây dồn dập vó,
Tiếng nhạn đen. Thả bổng quạnh hiu rơi

Đồi bập bềnh trôi lũng biển trắng
Mái nhà ôm, trở ngọn hú gào người
Người gắng gượng rõi dáng hình lãng đãng
Hồn như đêm lóng cóng. Cắn môi.

Những bực đá lấp chìm, đá rét mướt,
Dâng dưới chân, đợt sóng nổi chông chênh.
Người hẳn tiếc những khuya trời ngỏ mở
Đá nhún mình nâng gót nhẹ thênh.

Bụi hoa trắng ngó tìm trên đầu dốc
(Hoa ngời trông. Rạng hiện lối đơn sơ
Hoa cừu địch. Cười ý cuồng lảo đảo)
Rũ rượi buông cánh sũng. Quãng mờ.

Đèn vàng lụn như đầu diêm xòe tắt
Lửa thuyền xa. Đom đóm dạt phiêu bồng.
Tình rầu rĩ kêu tiếng trầm cắn đắng,
Bóng vang hư. Thoáng lịm như không

Kìa tóc ướt tựa gờ tường đay nghiến
Bám vịn trên cánh gỗ sượng sùng.
Thềm hiên gió rập rờn xô huyễn hoặc,
Đầu buốt mê tiếng gõ đập kinh hoàng.

....rồi lướt đọc nhanh thư em.
Bao giờ cũng vậy, giống như ngửa mặt phơi gió mặc cho thổi không nghĩ ngợi.


Những buổi sáng dưới hỏa diệm sơn

3.10.1972
Nói đến thư trễ, anh nhớ anh vừa đọc xong trong tuần trước một quyển tiểu thuyết thật tuyệt, Under the volcano của Malcolm Lowry  . Một truyện tình của một anh chàng say. Có những bức thư tình xếp xó không gửi, những bức thư gửi đến được cất ở quán rượu không được trả lời và một cái carte postale đến trễ cả hai năm trời, đến vào lúc hai người đã gặp nhau vào cái ngày của quyển tiểu thuyết. Thật tuyệt. Thật thơ. Lowry được so sánh với Joyce với Eliot. Em tìm trong các thư viện, đọc thử xem.

Anh thích những buổi sáng không thể tưởng. Ở Sài Gòn có nhiều bữa anh ra đường khi trời chưa rạng, chạy xe kiếm một quán cà phê chệt ngồi. Buổi sáng khi Pagode vừa mở cửa thường khi anh là người khách đầu tiên lúc còn làm ở Tiền Tuyến. Ở đây không thể ra ngoài. Sợ lạnh vả lại trong trại binh đi lang thang bậy bạ nguy hiểm không chơi. Hồi còn yên, mới vô lính, 4 giờ sáng dậy đi tuần xong chạy từ Cầu Kinh qua xa lộ vào Sài Gòn. Nhớ hoài những buổi sáng. Anh chỉ mới đón em, gọi dậy có mỗi một buổi sáng thôi. Buổi sáng của anh khó có người chia xẻ. Dường như các bạn thân thiết của anh chẳng có ai dậy sớm cả. Buổi sáng sớm chẳng bao giờ làm người ta chán đời cả. Sáng sớm dậy, thở, đi ngửa mặt khoan khoái thấy sống tỏa tràn trề không hề nghĩ ngợi bậy bạ nhảm nhí.

Lần ra Huế anh cũng còn nhớ những buổi sáng ở bên Hương Giang lắng nghe tiếng chợ họp dấy bên kia sông. Nhớ con đường hẹp như đường làng từ hồ Tịnh Tâm ra con đường phố trổ ra cửa Thượng Tứ hàng cây trồng cách sao mà ngả đầu vào phía trong như ngửa ưỡn người. Khu Gia Hội anh cũng đã sang. Đã ăn một bữa tối ở tiệm ăn Tầu bàn bầy ngoài vườn, chẳng hiểu có còn không (cùng phía với rạp hát bóng, đi quá lên trên).

Anh lại vừa nhớ đến những buổi sáng thức dậy trong Sở Thú. Hồi Tết Mậu Thân, tái ngũ, làm ở Tiền Tuyến, trong đợt tấn công thứ 2 vào Sg, cứ 4 tối anh lại bị một đêm dẫn lính qua nằm phục bên Sở Thú. Ngủ trên bãi cỏ dưới tàn cây. Ngủ trong nhà chòi bát giác sát bờ sông Thị Nghè. Ngủ dưới chân cái patio thẳng cổng chính vào trông thấy. Ngủ trong cái quán nước đã dẹp bàn ghế. Nửa đêm ve kêu râm ran. Sáng dậy nghe khỉ nghe voi kêu. Mời hết cả đám lính đi với mình mỗi người một ly cà phê sữa cho tỉnh trước khi về trại. Năm đó anh nhớ anh đánh bạc quanh năm, được liên tu bất tận. Về vứt ống súng là chạy ra Pagode ngồi đến 9 - 10 giờ về làm việc. Bây giờ thì buổi sáng chong đèn - luật phòng thủ tối kỵ - viết thư. Viết ba lăng nhăng, chẳng ra đâu vào đâu. Và nếu cứ viết kiểu này hoài, chắp lại dám thành quyển tiểu thuyết tình dầy. Có khác chi Under the volcano?


Khúc Presto, mùa hè rực rỡ

6.10.1972
Từ đầu tuần đến giờ anh gặp toàn chuyện xui. Khỏi cái bụng đến cái đầu. Hết cái đầu phía sau đến cái đầu phía trước. Số là bữa qua anh bị tai nạn kỳ cục. Từ Hội Quán về phòng không có gì lạ. Vào bàn ngồi đọc báo mở nhạc nghe. Nghe "Tứ Thời Khúc" của Vivaldi. Hết sức hứng chí. Tới nỗi ông sếp phải vô phòng yêu cầu vặn nhỏ bớt vì đang giờ làm việc. Lúc nào anh nghe khúc Presto của mùa hè cũng thấy xốn xang rưng rưng. Tắt nhạc ở khúc ấy, bước qua phòng bên. Không hiểu anh choáng váng hay do nhân viên lúi húi xếp gì trong góc cửa đẩy cánh mở, lúc quay ra anh va trán vào cạnh sắc của cánh cửa. Cái đầu ăn trầu. Tá hỏa tam tinh. Ôm cái trán qua bệnh xá, nằm cho người ta khâu hai mũi. Anh chàng y tá nói tuần nữa qua tháo giây, chắc chắn có vết sẹo trên trán. Anh trở về phòng bảo cái anh chàng đã gián tiếp gây tai nạn : Trước khi tôi rời Đà Lạt anh để thẹo cho tôi làm kỷ niệm nghe. Trong khi ôm đầu chạy trong mấy hành lang, gặp người hỏi thăm, mặc dù xây xẩm anh còn kịp đùa: đánh lộn, đánh lộn.

Suốt ngày qua cái đầu đau đằng trước, đau đằng sau. Mất chút xíu máu ngây ngất bàng hoàng quá trời. Một thứ say thiếu máu. Sáng nay hơi hơi tỉnh. Chiều nhận được thư. Đọc hai lần, chậm rãi, ngay tức khắc. Rồi đi ra ngoài nắng. Rồi đi dài ra khỏi vòng trường. Xuống khu vườn ở dưới lũng nơi đặt hoa viên để cho sinh viên sĩ quan tiếp thân nhân vào các ngày nghỉ. Vườn trong mùa mưa gai góc mọc đầy. Rồi đi ra ngồi dưới tàn trắc bách diệp của cái quán trông sang bến xe, trông sang cái trạm gác đầu cầu đêm nào có lửa cháy để sưởi, ngoảnh đầu thấy bờ hồ, ngửa mặt thấy dốc lên Hòa Bình, ngó ngoái thấy những hàng cây xanh um của những con đường đã đi qua. Cùng với Tòng, nhậu. Nhậu và ngậm miệng. Chiều xuống ớn lạnh. Khỏi cần lá ngô đồng. Nội cái thư em  đủ cho anh thấy mùa thu. Lại còn thêm cái chớm gió ngoài hồ thổi tới. Dập hết khúc Presto. Dập luôn bài thơ anh vừa viết sáng nay, trưa nay về ngôi nhà đỏ và mùa hè rực rỡ, mới chỉ được mấy câu:

Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng tía
Cửa thiên thanh nóc xoãi ngủ sậm nâu
Cây biếc lục trời tím than núi sững
Phố rực vàng huyên náo những triền sâu

Hạ đen thắm ngỡ ngàng đôi mắt sắc
Nắng khắp ngày trải tấm thảm ham mê
Mở rộng cửa, mở thời gian ủ dột
.......................................................


Quãng lặng

7.10.1972
Bid me not speak, bid me still
because my secret is my writ;
to show you all my heart would be my will
but fate does not permit.

In time dispels the sun's eternal course 
the gloomy night, and it submits to dawn;
the rigid rock itself must burst perforce
that hidden wells break out into the thirsty law.

In friend's embrace all agony is healed
and weary souls can be restored to hope;
alas, an oath keeps my lips ever sealed,
and but a god has power to break them open.

                                                            Goethe

Em đọc bài thơ có thấy ghê không?
chép em đọc chơi bài nữa, bù không có thơ của anh. Bài còn khiếp hơn.

You whom I don't tell that I lie awake
at night and weep,
whose being, like a cradle, makes
me tired and tender;
you who don't tell me when for my sake
you cannot sleep:
what if we endure this splendor
and let it ache
without relieving?

Look, when the lovers start
confiding the thoughts of their heart,
how soon they're deceiving.

You make me alone. You only I can exchange.
And while it is you, then a noise that seems strange,
or it is a fragrance without endeavor.
All whom I held in my arms did not remain,
but you are reborn again and again:
because I never held you, I hold you forever.

                                                  Rainer Maria Rilke


Nude, trắc

1.11.1972
Những ngày này nhộn nhạo tứ bề. Vậy mà anh tĩnh lặng. Quả có thể gọi là vô tâm. Tuần sau anh đã về Sài Gòn. Cho đến bữa nay vẫn chưa sửa soạn tí gì. Hôm qua đi gửi thư cho em. Hôm qua trời thật thu với mưa lay bay từng quãng. Nhớ đến cái đề của em " ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng khỏa". Nghĩ thấy cần trổ tài với em, anh viết bài này bằng vần trắc, dùng làm bài chót cho tập "ngôi nhà đỏ, trăng hồng" (Biến khúc quanh một bài thơ cổ).

Ngôi nhà đỏ trên đồi trăng hồng khỏa
Trời sương lam. Núi ngây rừng gió lạ
Cây ngà say. Đêm heo hút ngoài khơi
Mùa ngã độc. Rười rượi buồn cỏ lá.

Im. Rớt im. Nhánh khô ròn. Bước động
Ngói lệch xô bàng hoàng che giấu mộng
Chàng quay lưng mỏi mệt ngắm phố chìm
Cửa đóng bít. Rào vây. Mắt ngõ trống

Trăng chợp lay. Nhỏ to vẳng tiếng hát
Mùa hạ vàng rực rỡ và bát ngát
Đêm ơi đêm còn khúc điệu nào chăng
Vỗ về chàng. Trời yếu đau ngăn ngắt

Mỗi bực cấp, bước leo đầm hiu quạnh
Thở chênh chao. Hồn tả tơi sóng sánh
Đá muộn phiền tẩm thẫm mầu lãng quên
Lối mờ tỏ. Mưa giông khuya ngất tạnh

Hãy đắm đuối, chàng Orphée khờ dại
Đừng ngoái nhìn. Đừng ngoái nhìn. Bờ bụi
Trổ đầy gai. Vườn hoang phế. Ảnh nàng
Trôi tan tác trong hành lang rợp tối

Cửa đang ngó trong nỗi mù dằng dặc
Hoa hé trông gửi niềm riêng nghi hoặc
Đừng ngoái nhìn. Đừng ngoái nhìn. Chàng si.
Trăng ngỡ sáng. Trăng ngậm sương trầm mặc.

Mùa trở gió, nhà nín hơi lẩn lút
Đồi rì rào. Cây sượng sần lá trút
Đừng ngoái nhìn. Nàng núp trốn cùng đêm
Đừng ngoái nhìn. Trăng khỏa thân xanh mướt


Crusoé về chốn thị thành
Liên, đêm,

14.11.1972
Vẫn viết cho em từ Gia Định. Ngày mốt mới đi làm lại. Cuối tuần sẽ ra bưu điện kiếm thư. Ngày mai đi cắt tóc cạo râu. Còn tắm thì ngày nào cũng tắm rồi. Anh không nhớ là Crusoé ở đảo bao lâu. Riêng anh sau hai năm rưỡi sống ở Đà Lạt, và những ngày cuối cùng, anh trở về ngơ ngáo - xa lìa như người tỉnh một giấc ngủ hai chục năm, đúng như ý muốn. Gặp lại người thân, bạn bè thấy vẫn vậy - nhòa bớt đi ở mình. Cái xóm ở 18 năm vẫn vậy. Xóm anh ở như cái túi, người và vật vẫn y nguyên. Những đứa trẻ lớn lên, những người lớn già đi. Bọn con gái lấy Mỹ trở về lo làm ăn lại, bọn con trai đi lính lừ đừ về thăm, bọn nhỏ hơn ghiền ma túy làm du đãng. Đây là xóm lao động bình dân không lịch sự như xóm nhà em. Nhà vách ván nên tối ngày anh nghe nhạc từ máy nhà hàng xóm, nghe tivi nhà trước nhà sau. Anh không thể nghe nhạc của anh. Anh có một chiếc võng trên gác ván phía đằng sau để nằm lúc sáng sớm và chiều tối, đêm, trông thấy một khoảng trời một bóng cây xanh giữa các mái nhà. Khu này anh cũng đã ở từ năm 45, cô Liên ở đây những năm ấy. Sáng nay anh đi vòng vòng những con đường cũ nhận ra những nhà cũ và mới, các lối xóm xưa được sửa sang dung mạo. Ở đây sót lại một cô bạn học từ năm lớp ba lớp nhì, đã thành bà - tất nhiên. Hai người biết nhau vậy nhưng chẳng có gì nói. Nhìn cô bạn học cũ, anh phát giác em chơi với anh mệt vì anh không còn sống tới mà lui. Chập chờn như chiếc bóng. Rõ ràng thế. Sống tới với anh bây giờ chỉ còn nẻo duy nhất : điên. Anh không ưa. Em cần sống tới, khổ cho em.
...................................................................................

Mấy bài thơ về ngôi nhà, già Vượng khăng khăng yêu cầu ký tên "thật". Anh nhường. Nghĩ cho cùng cái sự anh muốn thủ tiêu hắn cũng chẳng ra quái gì. Anh đã biết từ lâu nó sẽ đeo dính lấy mình mà. Nó chẳng là của mình, nó là của kẻ thù và bè bạn mình nữa. Kẻ thù thì chẳng hệ, nhưng bè bạn đành nhường. Về đến nhà thấy quyển sách mới của Doãn Quốc Sỹ gửi từ tháng trước - Quyển Cúi Đầu - với một truyện đề tặng. Trông thấy cái tên in trên truyện của người khác nghe lạ lạ ...

















Công bố ngày 01/03/2012



                                                                                                                               







Quan Âm, Tề Thiên Đại Thánh

Đà Lạt, 26.12.1972
Từ chiều hôm qua anh bắt đầu công việc sửa soạn rời Đà Lạt. Trả mùng mền, áo lạnh cho nhà kho, trả sách mượn cho thư viện, thanh toán tiền bạc với Hội Quán Sĩ Quan ...v...v... phải đi khắp các phòng sở cho người ta ký nhận là mình không có mắc món nợ gì của trường, có hoàn tất đầy đủ thủ tục mới có thể rời đơn vị được. Thật là mất công, phải hôm nay nữa mới xong. Trả sách thư viện, anh đã đền 450$ để giữ lại tập Rubaiyat của Omar Khayam, tập thơ say của ông thi sĩ Ba Tư hồi thế kỷ XIV. Bản in quý, có tranh vẽ, thật đẹp không ngờ lại rẻ thế - nhờ là in hồi đầu thế kỷ, truy trong mục giá đề có 95 xu thôi. Anh đã giữ tập thơ này cả năm nay, gối đầu giường đọc hoài không chán. Đó là tất cả kỷ niệm hai năm hơn ở trường Võ Bị.

Hôm qua cũng say một bữa khá ở nhà người bạn không con. Lúc say vẫn thấy nửa đầu phía sau có cái niềng sắt nịt bóp. Nhớ hồi xưa đi học nghe ông thầy giảng về Pascal nói Pascal cũng mắc bệnh đau đầu, để có thể suy nghĩ được Pascal đã phải làm cái niềng có chốt vặn siết đeo trên đầu, mỗi khi nào đau quá thì siết cho cái niềng bóp giữ thật khít. Chẳng hiểu có đúng không, hồi học anh cho là ông thầy bịa chuyện tán tụng vì quá mê Pascal. Bây giờ anh tin. Đau đầu mà cứ nghĩ kiểu Pascal thì quả là dại. Việc gì nghĩ lẩn thẩn cho mất công. Để trị cái con khỉ lí lắc phá trời phá đất là Tôn Ngộ Không, Phật Bà Quan Âm cũng tròng cho nó một cái niềng sắt bao quanh đầu. Anh là Tôn Ngộ Không, còn không hiểu ai là Phật Bà Quan Âm? Em đoán xem.

Tuy nhiên về phòng, nằm thẳng cẳng, khỏi cần mùng - thành thói quen rồi - ngủ say. Không uống thuốc, rất ghét thuốc. Vạn bất đắc dĩ anh mới dùng thuốc. Sáng nay dậy thật sớm, thấy êm. Bây giờ thì lúc nào cũng thường xuyên thấy ê nặng nửa đầu sau nghĩa là bị cảnh cáo coi chừng có đeo niềng sắt đấy, hễ bị niệm chú là lăn lộn bưng đầu hết thước chữa. Chiều bữa qua nhận được thư ngày 24 của em mới biết nửa tháng nay đau không hay trời đất cũng là vì bị "hầm hè". Đêm qua ngủ ngon chắc là nhờ không bị niệm chú.

Sau đây là công trình mấy ngày lạnh:

1.
Nàng nghe hết thẩy âm thanh trong trời đất
Hết thẩy dư vang khuất lấp đời ta
Nàng hóa thân một tiếng ngã rớt
Bay dò thăm thẳm suốt hồn ta
2.
Tay xòe đóa sen
Mày nổi vầng đêm
Nghiệt súc, trời lồng lộng thanh thản
Mỗi búp tay mỗi đỉnh non
3.
Mắt khép mặc tình ta nhẩy nhót
Nhan dâng hồng nguyệt vợi thinh không
Ta cơn trốt bụi sao cuồng khấu
Hạnh nguyện nàng rong ruỗi chập chùng
4.
Hỗn mang trời biển sơ khai
Xuân thu chia giạt bến mê dài
Vời xa gió ngọn chan cô tịch
Ánh cười rạng nở phôi thai
5.
Dưới núi nằm sấp hầu nghe chừng
Hồn tinh hang hốc bặt hồi âm
Giấc đá nghiêm sâu vỡ thoát kiếp
Mộng ẩn thâm u bồ tát nàng

Chắc rồi còn nữa. Tán hoài không hết. Chẳng rõ em ngán chưa? Ngán thì bảo. Noel vui không? 25 tính sang thăm nhưng ngại lỡ tầu như 24. Tối 25 thì gió đùng đùng lại thôi. Cả ngày làm thơ miết....



Trái tim ngậm trong miệng

3.11.1972
Anh không ngờ em biết vẽ mà lại vẽ đẹp nữa. Em không thấy em hơn hẳn anh một nguồn thú tuyệt vời sao? Vẽ là cái món anh dở nhất. Dở không thể tưởng. Hồi đi học cái môn dessin là đứng bét. Ngay như anh học toán mà chẳng bao giờ anh vẽ được một đường thẳng cho ngay dù có thước, chẳng bao giờ vẽ nổi một vòng tròn cho khít dù xài compas. Tay vụng. "Hậu đậu" lúc bé cứ bị nhà mắng vì hay làm vỡ đồ vật, giống như anh chàng Le Petit Chose vậy. Viết là dở nhất, vẽ và nhạc là tuyệt. Anh thích chơi với mấy người vẽ và nhạc là vì anh coi trọng họ hơn là người viết. Khi em vẽ, em vừa làm việc bằng chân tay, vừa làm việc trên chất liệu cụ thể, những chất liệu khó bị làm cho hư ngụy (chữ nghĩa ai muốn hiểu sao thì hiểu, chứ còn đỏ là đỏ - xanh là xanh) và những gì em tạo ra nó hiện hình sờ sờ nguyên vẹn là của em. Anh chơi rất thân với Duy Thanh - Ngọc Dũng, phục tài một hồi - nhiều năm trước - bị lây anh cũng đòi vẽ nhưng chịu chết. Chẳng thể nào anh tạo ra cái hình thù gì cả.

Hôm kia ra phố trông thấy cái bìa của Duy Thanh là anh nhận thấy ngay tức khắc. Nét vẽ của mấy người bạn anh để đâu anh cũng nhận ra. Anh yêu sự giản dị, khỏe mạnh, trữ tình của DT không thể tưởng. Kỳ triển lãm đầu tiên của anh ấy ở SG năm 55 phần lớn tên tranh là anh đặt tên, anh còn nhớ vài cái tên như: Đường hoang đầy - Biết gửi về đâu - Chiều với ngó đỉnh cây - Mai về tình thơ hôm nay. Em có thấy cái tranh vừa rồi của anh ấy dễ thương không? Cái nền hồng thật mát. Mầu hồng trong các bài thơ của anh là cái mầu hồng đúng như thế. Còn cái hình dòm anh có cảm tưởng anh ấy nghĩ đến anh, vẽ anh. Cái đầu nhìn nghiêng của đứa con trai giống hệt mấy cái anh ấy vẽ anh trong tập Tôi Không Còn Cô Độc. Đứa con trai hôn trái tim có đường rạch vu vơ phía sau và những giọt lệ đá xanh (hay những chiếc lá?). Anh có chủ quan không? Anh mà hỏi anh ấy, chắc chắn sẽ được trả lời lừng khừng: Chắc thế, không nhớ nữa. Bữa nào em gửi cho anh xem một bức vẽ của em đi.

















Công bố ngày 25/02/2012


                                                                                            







Mais désespérément

Sài Gòn 4.11.1973
Anh cũng vậy. Anh cũng tuyệt vọng.
....................................................................
Mặc dù nghĩ nhiều phần em không đến, chiều nay anh vẫn chờ, đứng dáo dác ngoài cổng cho đến khi người ta kéo rào sắt cô lập khu vực và cổng Vườn Thú đóng. Vào đọc lại thư em. Rồi mở thư viết tiếp. Anh có ý định đưa thư này trao tay như em vẫn làm nhưng số nó nặng nợ với bưu điện. Chốc về ăn cơm anh sẽ bỏ hộp thư vậy. Em tránh gặp anh để khỏi làm phiền, tránh viết cho anh này nọ để anh khỏi đau đầu, giống hệt như anh vậy, anh cũng lẩn tránh thế. Thật tâm có lúc anh mong em quên được anh cho em nhẹ mình, em cũng nghĩ thế phải không? Nhưng thôi không nói những chuyện tầm phào ấy, em lo chữa bệnh xong đã. Ưu tiên một đấy. Còn anh cứ đành làm thơ và viết nhăng. Sáng nay ngồi trực anh làm nhiều việc lắm. Trước tiên là làm phần mở đầu của một bài thơ có tựa "lập dị" Mais désespérément. Mais désespérément, anh mê mấy cái âm vớ vẩn đó và sẽ làm một bài thơ xuân theo commande của Mai Thảo cho Văn. Em thừa nghe thấy bài thơ thế nào, nó sẽ quay quanh cái thème "khi em trở lại", đại khái như:
Khi em trở lại, anh mơ hồ giữa rừng tuyệt vọng thao thức
Những lao xao trăn trở gọi mùa
Khi em trở lại anh mở bừng mắt giữa chiêm bao bối rối
Vô vàn cô đơn ấp úng


Sài Gòn, 5.11.1973
.............................................................................
Còn lẽ nữa, nếu em để ý từ hôm sáng thứ bẩy đó em thấy, anh mất bình tĩnh. Anh đang lơ lửng giữa không trung. Anh đang bắt đầu "Mắt Bão" mà. Mỗi lần bị hớp vào trong trí tưởng tượng là y như rằng anh múa may kỳ cục. Em biết không anh phải tạm đổi Mắt Bão thành Kẻ Bại Vong hoạc Kẻ Vong Tình. Có thể sẽ còn đổi nữa. Và trước lúc em ngồi trong ghế bành, anh phải bỏ ra ngoài vì chịu không nổi cái đầu óc. Trên tờ giấy ghi anh mới chỉ viết nổi hai giòng: La Narratrice - Thành phố cũ. Anh cố nhìn sự vật bằng mắt của em, của người đàn bà. Quyển sách sẽ thành hình trong nhãn quan ấy. Điều anh chưa từng làm. Em thấy anh dáo dác có phải không? Gặp em anh sung sướng nhưng cũng cực nhọc vì sự vụng về lơ đãng của mình. Sáng chủ nhật làm thơ, dịch thơ, viết thư sung sướng nhất. Hóa ra em cứ như bị "tế sống", anh buồn thêm vì thế. Đó là sự sung sướng hết sức ích kỷ. Em cũng thấy vậy phải không?
Em đang làm nhòa mình để đến với anh và anh đón em bằng cách đẩy em bật trở lại.

Ôi thôi, nói hoài chẳng hết. Anh xin lỗi, cám ơn, xin lỗi hoài không hết. Thành ra "nghề của chàng" là xin lỗi.

Sài Gòn, 22.11.1973
Sáng nay trời trở lạnh. Anh bắt đầu thấm, cảm cúm, khan cổ. Đi làm mặc áo dài tay. Nghĩ em đến bữa nay hoặc mai. Nhưng cũng nghĩ luôn là em thấm mệt, thấm trận mưa bữa đó. Đúng không? Buổi sáng làm xong bài thơ bỏ dở từ đêm chủ nhật em tới. Chép cho em đọc đỡ buồn trước khi chép cho Văn.

Mais désespérément

Khi trời tuôn những trận mưa mù
Gió, gió quỷ quyệt
Qua những vùng xanh biến tích
Gió, gió hú trời lưu lạc
Buổi tàn đông
Mờ bạc sông xa
Đứng giữa cỏ hèn giá
Ngọn kiêu trơ
Rụng cuống lá chót
Ngã trên đất mủn rời

Khi chỏm núi cao tạc tượng ác
Giấu mặt mây đùn
Mặt lở lói phế khuyết phô cổ đại
Rừng trăn trở lao xao
Mùa cay nghiệt
Chim nào sống sót
Ngậm tiếng than sau cùng
Giọt nắng hè rực máu
Đồng lụt bão bải hoải mênh mông
Nước cuốn tuyệt vọng
Con thú nào buốt cóng vẫy vùng
Giữa mắt chiêm bao thức

Em trở lại, bắt buộc trở lại. Em vô vàn cô đơn ấp úng
Dù mùa xơ xác tan hoang

Em trở lại hãi hùng thất sắc
Lửa chụm cành mục lìa
Cành góp lượm
Nhánh trụi gẫy
Khóc mịt mờ nước mắt dàn dụa
Trong mưa khép nép bình minh
Em kêu: em trở lại em trở lại
Thấy không lửa đơn sơ lung lay
Phụt tắt
Lửa xanh xao rồi xỉu ngất
Theo gió bay bờ bãi tiêu sơ

Em trở lại , bắt buộc trở lại. Em biết bao khốn đốn
Lập cập ngoài lau lách tả tơi.

Em trở lại run rẩy cùng cực
Những lối mòn bối rối gió mê man
Nín lặng tha ma nín lặng khắp
Nơi xóm làng nơi phố phường
Nơi trốn lũ
Nơi mộ địa bằn bặt khóc
Em kêu: em trở lại em trở lại
Thấy không nổi dậy những hoa phô
Ánh sáng khiếp đảm tươi
Nhắc nhở nhắc nhở mãi
Mạch ngầm ứa lệ lộc non nhú
Sinh huyễn đời côn trùng
Bóng trời tá hỏa trầm
Bóng trời xanh hoảng hốt
Khúc hát vang lừng xuân tự ải

Khi sông gọi biển trời gọi mùa thầm thì anh gọi em
Giải sông trắng lấp trời, biển vỗ ru huy hoắc em trở lại
Hãy ẩn mình trong chấn động tàn rơi

Hôn em. 12g15'

















Công bố ngày 20/02/2012


                                                                                                                            












Khúc cầm xanh

Đà Lạt, 27.10.1972
Đảo xa,
Trong cuốn băng có một mặt của Bach và một mặt của Beetho. 5 khúc của Bach anh chọn cho em nghe đều là 5 khúc anh thích và thường nghe vào sáng sớm hoặc lúc chiều bỗng rực hiu quạnh. Khúc dạo mở đầu tưng bừng. Khúc đàn dây du dương ngọt ngào (khúc này trích trong suite số 3 của Bach - đoạn 2) dàn nhạc do Pablo Casals hướng dẫn. Tên Pablo Casals có nhắc nhở em nhớ gì không? Espagnol, tay đàn đại hồ cầm nhất thế giới vừa ăn mừng sinh nhật thứ 90 năm ngoái năm kia gì đó. Tất cả các tay kéo đại hồ cầm trên thế giới đã kéo nhau đến tụ họp, mừng tuổi cụ, mỗi người mang theo cây đàn của mình và hòa tấu cùng với cụ. Pablo này cũng vĩ đại như Pablo Picasso bên hội họa. Hai Pablo năm 7, 80 tuổi đều còn nồng nàn và đều lấy vợ, vợ khoảng 20 tuổi. Một người vẫn còn kéo đàn và một người vẫn còn vẽ. Anh có được nghe một bộ đĩa quý gồm những tác phẩm của Bach do Casals tình cờ lục kiếm thấy, một mình Pablo đàn và thỉnh thoảng nghe nổi giọng ngâm nga của Pablo theo tiếng đàn của mình. Tuyệt. Em có thích tiếng đại hồ cầm không? Anh mê. Đêm qua anh đã thu vào băng 7 biến khúc cho Piano và đại hồ cầm của Beetho trên một thème của Mozart nhưng lại phải xóa đi vì thiếu chỗ. Nếu em thích  lần sau anh mua cuốn băng 90 và sẽ thu cho em nghe những khúc đại hồ cầm của Beeth. Anh cũng có một cuốn băng ru mình ngủ. Pablo Casals độc tấu những điệu ru ngắn.

Khúc thứ 3 - Sleepers awake -  cũng như khúc trám sau Sonate của Beetho - Jesus, Joy of Man's desiring - có tính cách tôn giáo. Tuy nhiên nghe thoáng, bổng, mát mẻ và trầm tĩnh nhường nào. Có phải không em? Nhưng tuyệt nhất là khúc Toccata and Fugue. Anh nghe hoài không chán những Fugue của Bach. Tuyệt đỉnh nghệ thuật của Bach và cách viết Fugue (nghĩa là có bao nhiêu giọng đều cùng trổi hết vẻ của mình, tưởng như ganh đua hỗn độn mà hòa hợp tài tình) là cái Bach mang đến cho âm nhạc. Nghe Fugue mới thấy tràn trề, yêu đời, nồng nàn, cởi mở nghĩa là đúng như em nghĩ " hạnh phúc túy lúy". Nhưng em nhớ, Bach mập lắm "túy lúy"  mà vẫn vững vàng oai vệ không hề "lảo đảo" "hụt hơi" "chân nam đá chân xiêu" thảm hại đâu. Em nghe kỹ xem.

Trước khúc Toccata and Fugue, là Little Suite. Đúng là little. Nhỏ nhẹ, dễ thương, gọn gàng, giản dị hết sức. Nhưng đâu có kém đằm thắm. Bach thường viết ngay lập tức dễ dàng những exercices để dậy con. Chắc đây cũng là bài Bach viết buông bút, không chút cầu kỳ.

Chỉ có thu đến Beeth là anh mệt. Đêm qua anh đã thức đến 2 giờ sáng chỉ vì loay hoay chọn bài. Thu xong xóa, rồi nằm nghe lại những bài định chọn, chừng mệt thiếp anh trùm mền ngủ luôn khỏi giăng mùng. Sáng nay ở Hội Quán về, thấm mệt, mắt mờ, nhưng cố thu cho xong. Khất hẹn hoài lại bị riễu là ba đía. Mới đầu anh chỉ tính thu toàn Bach cho em, nhưng cả hai mặt bande lại dư mỗi mặt vài phút.........
..............................
Rồi anh sẽ thu cho em Sonate à Kreutzer để em so sánh. Cũng vẫn chỉ hai cây đàn, nhưng viết về sau này với đầy đủ đặc tính của Beetho - kỹ thuật cũng như xúc cảm - Em có đọc cái truyện ngắn của Tolstoi lấy nhan đề bài Sonate này chưa? ( Anh thì chưa đọc vì anh vốn ghét Tolstoi)

Tối qua thu nhạc, nghe no - kể từ bữa ốm dậy - trông cảnh cũng khác thường. Trời mưa lây rây, chớp lóe thật nhiều. Khoảng 10 giờ xuống Hội Quán uống cà phê với Cường trở về, cái áo khoác dầy em đã từng trùm, bám ướt. Ho lụ khụ, uống thuốc như ông lão. Nửa đêm mưa dứt, trăng xanh lè chiếu vào phòng. Thấm lạnh. Tưởng thế nào sáng dậy cũng có chầu khặc khừ. Vậy mà 6 giờ sáng đã nhỏm dậy, nghe trước Khúc Mùa Xuân rồi mới đi ăn sáng. Mệt, nhưng là cái mệt của người đã khỏe.


Đà Lạt, 30.10.1972
........................................................................................................
Sáng nay trở dậy 05 giờ sáng. Vừa để nhạc thu vừa viết cho em đây. Bây giờ là 7 giờ, đã có nắng. Đã thu xong mặt gồm mấy cái Sonates cho cello và piano và đang mở nghe lại. Còn mặt kia sẽ thu Sonate à Kreutzer. Chắc ngày mai có thể đi gửi cho em cùng với thư này.

Cùng với những ngày thu này, chắc là anh sẽ đầy rượu chát và nhạc. Nghe Beeth no nê. Trưa chủ nhật ở phố về, mua kim mới, anh cũng đã nằm nghe suốt buổi cho đến giờ hẹn với hai vợ chồng người bạn. Sonate à Kreutzer khỏi nói em nghe cũng sẽ thấy rõ cái chất của Beeth. Riêng mấy cái Sonates cho cello và piano, anh đã chọn cho em mấy bản thủ thỉ dễ chịu. Sonate Op. 69 vào cái thời Beeth còn chịu ảnh hưởng của Haydn, Mozart, chưa phá. Sonate Op.102 số 1 đã thấy cái mầm mống của những tác phẩm đặc Beeth sau này. Kế đó là 7 biến khúc trên một thème của Mozart là sự hòa hợp thú vị. Em biết Mozart là một tâm hồn nghệ sĩ thuần trời cho, bay bổng tự nhiên không hề có chút vướng mắc, nghe Mozart chẳng hề thấy bợn chút bụi trần. Chỉ vào khoảng cuối đời, ở mấy cái symphonies 39-40-41 của ông mới thấy tỏ lộ tính bi thảm của trần thế. Beeth là một tâm hồn đối cực, lãng mạn hùng vĩ, đó là con phượng hoàng bị tên ghim đầy mình vẫn bay vút được đến chín tầng trời tung tiếng kêu thảm thiết bồi hồi xuống nhân thế. Mozart chính thống trữ tình, Beeth chính thống lãng mạn. Beeth khép mình vào cung bậc của Mozart, đẩy sự tung tăng vô tư của người trước vào những lối nồng nàn hệ lụy. Rồi anh sẽ thu tiếp cho em nghe thêm 12 biến khúc khác cũng trên một thème khác và những biến khúc trên một thème của Haydn. Em hãy lắng nghe tiếng cello- trầm, nặng, đầy nam tính. Em hãy nghe lúc vào khuya, lúc hiu quạnh nhất. Em nghe và cam đoan em không phải thở đâu. Em sẽ thiếp đi trong bàng hoàng, trong heo hút. Em sẽ nghe như anh đã nghe trong những đêm lồng lộng của anh đây.

Anh cũng gửi theo cho em bài Tạp ghi thứ 2. Bài thứ 1 anh không có. Từ ngày ấy anh cũng chẳng viết thêm bài nào nữa. Tửng tửng hoài anh cũng đã chán. Anh sẽ nghiêm trang hơn. Để viết quyển truyện tình của anh - không cứ bị em chê hoài, kỳ quá. Nghe em đọc bài của H.P.A xong chê anh bậy, bậy, anh lại thấy thích mới chết. Bởi chính anh đọc bài ấy cũng thấy ngộp.Thường anh chẳng hề chú trọng coi xem người ta nghĩ gì về mình, phê bình gì về mình, bởi mỗi lần ngó thấy anh đều thấy như mình bị đóng đinh. Anh đã là như thế nhưng anh còn có thể khác chứ. Sao cứ bắt anh như vậy hoài. Cho nên anh chẳng bao giờ xúc động lâu về những điều đàm tiếu, thị phi hết. Em đọc bài Tạp ghi chắc thấy rõ khởi từ đâu anh viết nó. Phải không?

Thôi bắt đầu chóng mặt. Ngừng đây. Viết cho anh như anh đang viết cho em.













Công bố ngày 07/02/2012








Hải đảo


Trên biển mù sóng cuộn
Ngày lộng tuôn như máu loang khô
Sóng thảng thốt dập vùi hải đảo
Cửa ngàn trùng gió mở toang
Nâng niu máu rỉ cườm tay nhỏ
Thời khắc câm tiếng nỉ non

Hải đảo xa vời em
Trên miền non cao rừng rú
Gió gào giận khốn tù
Trong cõi mộng hung tàn
Một mùa đông dài bão táp
Đêm qua ác điểu đậu cành khuya
Thả rớt trái tim ác độc
Trong một tiếng tang thương
Đêm qua gió cắp mộng lên non trốn chạy
Rồi gió hú van
Trong hành lang tối ám giờ lâm tử

Hải đảo xa vời em
Trời chuyển màu chớp xé
Cánh chim bay cánh chim bay
Vào mùa hư không trôi nổi
Khi bóng đảo chìm


                                    Tâm





Vang vang bài thơ trăng

30.09.1972
Mon ile,
Đã hết tháng chín. Thêm bài "Ngôi nhà đỏ" nữa. Thế có lãng mạn quá không? Bài thơ thứ ba, thứ tư nếu kể cả bài Đảo. Hình như còn nữa. Giống như họa sĩ đứng trước ngôi nhà vẽ vài chục bức, với màu sắc ánh sáng bố cục thay đổi. Giống như nhạc sĩ có một cái "thème" và nhiều "variations". Chưa bao giờ anh nghe mình du dương lạ thế. Anh nghe vang hoài "ngôi nhà đỏ trăng hồng..." và anh chỉ việc thêm vào chữ chót rồi theo rõi cả ngày, cả tuần những lúc quạnh hiu. Đã có trăng hồng hạ, trăng hồng lạ, trăng hồng lả... Còn những trăng hồng gì nữa anh sẽ thấy. Có thể anh viết hết cả xấp giấy này cho những bài trăng hồng chưa chừng. Ráng mà đọc nghe.


26.10.1972

Ngôi nhà đỏ đồi trăng hồng vằng vặc
Cửa xanh xao. Xoãi ngủ mái nâu.
Cây biếc lục. Trời tím than. Núi sững.
Phố bật vàng tuôn chảy dưới triền sâu.

Hạ đen mướt long lanh đôi mắt sắc
Cơn sốt ngày. Nắng trải thảm ham mê
Đẩy tung cửa nhốt thời gian ủ dột
Gió miên man lùa rạng rỡ đêm hè.

Chàng thở vội hương bay trên đầu dốc,
Ngực cồn cào. Trống hụt những âm quên
Bực đá gọi - tinh sương mùa thảo mộc
Gọi trắng trong. Lãng đãng. Chuông rền

Trên lối tưởng, đứng ngây. Mắt ứa lệ
Đêm xưa, trời si dại, biệt tăm.
Tường giãi im. Nàng ngửa đầu, chợp mộng.
Thềm hoang đầy. Xanh miết miết trăng.

Chốt lỏng gẫy. Cửa ngỏ không. Mờ hoặc
Chàng là ai? Ghế mộc quỵ rời chân.
Trăng dọi lối quanh co. Ngách lắng tiếng.
Chàng là ai? Chim kêu lạc. Tần ngần.

Nàng hớt hải ngoài vườn. Ngày huyễn ảo.
Thu lượm cành. Đốt lửa. Xốn xang trăng.
Nhà lảo đảo trên vòng xoay đám hội.
Gió khắp đồi. Lửa rực sáng như băng.


Mấy bài thơ về ngôi nhà này chừng đăng anh sẽ đề là "Biến điệu quanh một bài thơ cổ" Anh nhớ bài thơ của Thôi Hộ:

Tích niên kim nhật thử môn trung
Phấn diện đào hoa tương ánh hồng
Phấn diện kim niên hà xứ khứ
Đào hoa y cựu tiếu đông phong.

Và anh sẽ đề tặng vợ chồng Nguyễn Tuấn Kiệt - vì chính họ mới là chủ nhân của ngôi nhà đỏ.




Quyển tiểu thuyết sẽ viết trong quá khứ

25.10.1972 
Đảo xa,
............................................................
Anh vẫn chưa viết một chữ nào. Cái máy chữ đặt trên chiếc bàn con ngay kế sau lưng bám bụi, cùng với cái cassette còn lắp cuốn băng Vivaldi nghe từ hôm bị đụng đầu. Hơn tháng không nghe nhạc, tại mải nghe những lóc cóc trong đầu mình, nghe những cơn gió lửa và tuyết thổi qua thân mình. Thật là tơi tả.

Anh chưa biết là quyển tiểu thuyết sẽ viết ở ngôi thứ mấy. Cũng chưa biết gọi nó là cái gì. Có hai cái tên có thể tạm dùng được thì bị hư rồi. "Ung thư" thì đã viết đăng tùm lum, đã đưa cho nxb An Tiêm lấy tiền tiêu mà vẫn chưa chịu cho in. Bây giờ mà đặt tên ấy nhất định là ông sư Thanh Tuệ sẽ đòi in và mình chẳng có đồng xu bản quyền nào nữa. Tên thứ hai là "Nỗi chết không rời" - hồi đi Thủ Đức trích đăng ở Bách Khoa đã dùng - sau bị ông Trần Phong Giao lấy xài ngang xương cho một tập truyện của 2 anh em ông Duy Lam mất. Bí ngay từ cái tên. Nhưng thôi cứ gác đó chưa vội gì.

Truyện anh định viết là một truyện tình. Truyện tình của hai kẻ không chỉ sống riêng với nhau trong một thế giới. Họ đều là những kẻ chịu chằng chịt những ràng buộc với xung quanh và mối tình chẳng bao giờ là của riêng họ. Họ sống với nhiều người, sống với hư tưởng bao trùm cả một đời. Và tình yêu sẽ như thế nào trong hoàn cảnh ấy? Anh đang chiêm nghiệm. Câu truyện tình của anh mang đầy những tham vọng. Nó sẽ cho người ta thấy những con người, một xã hội và một lịch sử nào đó. Tấn thảm kịch của hai người cũng là tấn thảm kịch của VN mấy chục năm trở lại đây.

Người đàn ông lúc bấy giờ gần 40 tuổi, xuất thân từ một gia đình "cách mạng". Ông bố là một cụ Cử, theo tây học, tiêm nhiễm từ sớm xã hội chủ nghĩa. Con cái nghỉ hè về làng là cụ bắt đi làm công việc đồng áng. Cụ tổ chức ngôi làng - mà cụ là kẻ có uy tín và thế lực- theo quan niệm xã hội. Con của cụ mang tên Tô - Nga - Đại - Đồng. Cháu của cụ mang tên Việt - Nam - Xích - Hóa. Trong những năm  1925 - 26 phong trào để tang cụ Tây Hồ, người anh cả trong gia đình bị đuổi khỏi trường học, bị cấm thi, một buổi chiều đã cắt đứt mạch máu ở cổ tay và chạy băng trên cánh đồng làng cho đến khi kiệt sức. Nhân vật chính là kẻ đã chạy theo anh ta trong buổi chiều ấy. Đó là cái background của nhân vật. Đại khái là vậy. Từ năm 45 anh ta đứng về phe QG và không tin tưởng chút nào - nhưng anh ta vẫn hoạt động.

Còn người đàn bà? Đó là một nhà văn. Một nhà văn nữ giới cách đây vài chục năm, em hãy tưởng tượng. Em có biết bà Thụy An không? Em đã đọc bà ta bao giờ chưa? Hồi còn ở Hà Nội anh đã trông thấy bà một vài lần trong thư viện. Đó là nhân vật thứ hai. Họ đã yêu nhau từ ngày xưa và bây giờ họ gặp lại nhau. Trong thành phố Hà Nội, năm 54, những ngày sau Hiệp định Genève. Cuối một mùa hè rực rỡ và một mùa thu hoang vắng.

Nhân vật chính của anh là người đặt chất nổ phá sập Chùa Một Cột vào một ngày thu. Và một buổi sáng lạ lùng ấy, người ta tìm thấy hắn bị ám sát chết trong một gian nhà hiu quạnh bên hồ nơi hắn và người đàn bà đã sống những ngày hạnh phúc đầu tiên trong đời của cả hai. Người đàn bà biệt tích. Đại cương truyện là như vậy. Có vẻ như truyện trinh thám. Trước khi Hà Nội được chuyển giao cũng đã xẩy ra vụ án ly kỳ với hai nhân vật là bà Thụy An và ông Đỗ Đình Đạo. Đỗ Đình Đạo bị giết chết. Đỗ Đình Đạo không phải là nhân vật của anh. Anh chỉ giữ lại bà Thụy An thôi.

Chính yếu là anh sẽ cố sức giữ cho không lạc, mặc dầu những sức lôi kéo và thu hút ở ngoài, là anh sẽ viết một truyện tình. Mọi thứ khác chỉ là bầu không khí. Anh sẽ cố sức viết quyển truyện tình này và anh hy vọng nó sẽ soi sáng cho anh nhiều thứ lắm. Em có nghĩ như thế không? Sẽ không hề có chút chi anh và em nơi đó, nhưng rồi em sẽ nghe thấy đủ cái âm vang của mùa hè và mùa thu mình đang sống đây ở đó. Điều quan trọng là em sẽ nghe thấy, anh sẽ phải làm sao cho em nghe thấy những điều anh không hở môi, cũng như anh sẽ phải làm cho anh thấy rõ hình bóng của em mà anh bắt gặp qua những bóng vang ở ngoài. Đầy tham vọng phải không? Anh hứa anh sẽ không làm biếng và lần này sẽ không bỏ cuộc như từ trước anh vẫn ưa bỏ cuộc. Anh bằng lòng làm nhà văn thực sự mà. Bởi anh có làm được gì khác nữa đâu, phải không?

Có lẽ về đến Sài Gòn anh sẽ bắt đầu làm việc. Những ngày còn ở Đà Lạt, anh vẫn cứ tiếp tục lững thững rõi theo cái thời tiết khó kiếm lại và chắc còn lâu mới mong thấy. Và anh sẽ vẫn tiếp tục làm thơ cho em coi. Bình tĩnh như chẳng có gì đáng kể, mà cứ kể hoài. Phải không em?








                                                                                                      

















Những bài thơ chưa bao giờ phổ biến, 
lần đầu tiên được công bố trên "Mượn Dấu Thời Gian"







Công bố ngày 30/01/2012



                                                                                                   








Thơ làm trên xe taxi




Trên taxi trở lại Sài Gòn một mình, anh làm được mấy bài thơ sau:



Bài thơ dài nhất đời
Lời nói rụng không cùng
Căn cớ chi chàng nói mãi?

Liên hoàn
Chàng đắm trong một vài phút giây
Mơ màng đời khánh kiệt.

Tiếp tục
Em thấy em thấy 
Nỗi thẳm hiện phô phang.

Tái tục
Trời đất nào chứng giám
Khi ta hoảng kinh phá đám đời ta.

Hậu
Kìa tóc cỏ phơi mưa
Rì rào hát lời tận số.


                                                    28.09.1973


















Công bố ngày 08/01/2012


                                                                                                                               











Thơ Tình





Je voudrais que mon amour meure
et qu'il pleuve sur le cimetière
et les ruelles où je vais
pleurant celle qui crut m'aimer

Mourning the first and the last to love me.

S.Beckett





I. Gọi em dậy

Gọi em dậy trời mờ trên đồi
Hớt hải mai xa ngựa nẹt đuôi
Lông bờm mướt, da căng, gõ móng mặt đất nhớ
Mai còn trăng, úa lững thững tuần trăng.
Trở về, trở về trên dấu cỏ sương

Gọi em dậy hoang mang mưa nhỏ
Rã rượi mai phố xám tường cổ thành
Hào rêu bèo, cầu đá, tường long lở
Mai ngu ngơ trăng soi giữa đầm trời
Trở về, trở về theo luống heo may

Gọi em dậy ngày còn lạ sảng
Bay trong vườn hơi hướng đêm thu
Rừng mắc cở mắt nghiêng tóc lả tả
Mai tinh mơ chết lửng tay hờn.
Trở về, trở về trả lốt tịch dương

Gọi em dậy Gọi em dậy
Nhìn tuốt chiêm bao cười cợt gió
Đỉnh núi ngất xanh khắc tình sầu


II. Chiều lặng thinh ngoài

Chiều lặng thinh ngoài, chiều thân thiết
Chiều chưa bao giờ
Như nụ hôn ủ
Của thinh không chết điếng
Cây khờ trong gió chao

Tình một đóa thắm
Bỗng một mùa giông
trong đêm hè khánh kiệt

Náu mình bên ghềnh đá
Nghe tiếng thác nhòa
hát
Vi vu khúc mùa đông
Khiếp đảm đời kiếp kiếp

Đợi gió thổi tan chiều
Và nỗi thờ ơ bảng lảng


                                                 Pourquoi survivre poètes décus
                                               Que chaque verbe conduit au suicide?
                                                                          A.Bosquet


III. Thổi biệt mù tới

Thổi biệt mù tới
Thổi ta đi.

Chim kêu líu lo
Trong bão táp
chẳng nín.

Thổi lặng ngắt xứ xôn xao
Thổi tan vỡ

Hạnh phúc những chùm lá reo
Đá mê thiếp
Miếng hôn đau bằn bặt

Thổi mờ mặt mũi ta
Lênh đênh thể dạng.

Đồi tở mở ngây
Đêm cồn cào
Lũng dâng tàn lửa

Thổi vang huyên náo
Thổi trống dư thừa

Đốm sao nhào biệt
Cõi trời góa
trên giải sông trầm

Thổi em đến ta
Thổi ta mất tích.



IV.

Chúng ta đứng hong phơi. Mưa dìu dặt. Gió xô vỗ sau lưng, lao đao dưới vực. 
Đứng mê man như cây ẩm, lá sũng trong tối.

Thành phố nào đã xa rời ? Bật sáng đèn đóm trong khuôn các cửa nhà. 
Thành phố nào đó ? Đâu bóng chúng ta ? Chập chùng đáy lũng lượn lờ triền đồi. 
Thành phố không dưng kể lể. Có nghe ? Có nghe nỗi niềm cao thấp chênh vênh ? 
Có nghe biền biệt giữa trời nổi gió ?

Chúng ta. Này vẫn chúng ta. Từ bao lâu ? Còn chúng ta ư ? Như thể mọi mảnh gió cuốn. Như thể tẩn liệm trong băng, kết khối. Chàng như tượng đá trồng sườn non. Giống nàng cô phụ. Nàng cười rộn theo mưa rũ tóc.
C'est formidable, c'est ridicule, c'est merveilleux, c'est toi ...

Mưa thêm cũ kỹ. Chúng ta cũng cũ kỹ và huyền hoặc. Thành phố lập lòe rền chấn động. Những luồng sóng truyền nứt rạn ôm kín. Ruột đá nát. Chàng thấy biển nhấp nhô hèn mọn. Một mùa mưa cổ kính phiêu bạt theo đêm thu muộn ru chàng. 
Mộng lẩn vào rừng. Mưa bay tìm lối. Lối nào đâu ? Lối nào đâu ?

Trong giấc ngủ đầy của sự thể, gió động miền hoang dã. Mộng đâu ? Mộng đâu ? Gió gọi. Mưa lay. Gọi đứa trẻ lưu lạc giữa chiều nắng quái ngoài đồng, đứa trẻ bó gối buổi mai bên bờ nhìn hồ sương phủ, đứa trẻ lang thang theo con chó đói ghẻ lở vừa đi vừa liếm vết thương trưa nắng trên hè thành phố. Thành phố xụp đổ.
Gọi đứa trẻ hãi hùng tuôn chạy xa tiếng gọi.

Mưa còn đó không ? Mưa dìu dặt. Biển sóng nguôi ngoai ôm thành phố lặn chìm. Chàng đã hư hao và rộn rã. Còn nàng ? Nàng vẫn cười như mưa thấp thoáng. Nàng vui vầy như mưa và cỏ rối và đêm và trống trải. Phải chăng ?
Nàng bật khóc như mưa.



                                                                         Tháng 8.72

                                                                           Tâm




















Công bố ngày 22/12/2011



                                                                                                                              







Nằm Võng Những Ngày Cuối Năm




Mắc võng ngang hai đầu sinh tử
Dưới trời sương bẩn, lớp mưa thưa.
Cây yên khuất thần sầu quỷ khốc
Nắng cạn niềm bải hoải sau xưa
Ngày choáng váng nôn nao tịch diệt
Năm hồi sinh chóng mặt im trơ
Đong đưa sóng thảm chiều im lặng.
Cùng kiệt trôi rực rỡ bóng thừa.


Mắc võng bên bìa rừng thâm hiểm
Quạnh trăm năm, trời đất xanh xao
Chim bay mỏi, chông chênh sa lạc
Đồng bãi nghiêng, bằn bặt âm hao.
Lá phủ rợp, nồng ngây thảo dã
Tình ơi tình, say mứa chiêm bao
Bổng chìm heo hút quanh vòm bẫy
Cây gọi cây, lạnh ngất lửa sao.


Mắc võng trên đỉnh khuya mờ gió,
Trời tuôn bay, thấp thỏm đáy sâu.
Đá quặn ruột, đá hờn kết tụ.
Cỏ buông hơi, cỏ kén thâm u.
Rễ níu sững sờ tim cổ đại
Mỏm khờ hai hớp giấc thiên thu
Thơ ơi thơ rũ cuồng cơn chết
Lồng lộng non xa thở tuyệt mù.


Mắc võng ngang biển gào vô lối
Ào ào cô quạnh ngõ môn sinh.
Đất lênh đênh, sóng tàn hơi đuổi
Thốt tiếng không, đảo dạt lặn chìm
Tình đắm hoang mang, lời huyễn dụ
Đêm chưa đêm, vật vã sơ sinh.
Bọt lả tả, ngày còn biến mặt
Trời tinh khôi, trắng xóa nhịp kinh.


Mắc võng trong vườn hoang kiếp phế
Nghe em về, hấp tấp mê hoan.
Đón cửa nẻo, lưới giăng bắt mộng.
Lá xum xuê, xô rạt bàng hoàng
Buổi khốn lụy đưa chân thảng thốt
Thưở xa vọng hiện bước canh tàn.
Đừng khóc. Võng đu ngoài cõi biếc
Chợt đứt rơi, thoảng tiếng gẫy ròn.


                                           6/2/73









                                                                                              pnfoto









Tắm Giếng Đêm Trăng

Trời còn đêm nay còn mãi mãi
Sao như lệ ướt không muốn rơi.
Hồn đuối trăng nghiêng trăng bờ bãi,
Thả đắm dung nhan giữa giếng khơi.
Cười vắng riêng mình, tuôn nước dội.
Thân nhẹ mênh mông rực sáng ngời.
Tản thần em mọc túa hắt hủi,
Xõa tóc làm ma cợt ghẹo người.   

                                                                  04/10/1972










                                                                                                     







Attenzione *

Trong trời gió xô mây chạy hoảng
Rừng thông cao như đám ngựa quần.
Ngựa bị buộc cơn giông khô tối
Hí vang rần sóng lớp bạt ngàn

Trăng nhỏ thó nhấp nhô huyễn hoặc
Chạy theo mây thở dốc khốn cùng
Hơi giá ướt đẩy chân bấn loạn
Ngựa lạc bầy đốc chứng hớp trăng

Hú dùm ta còi dài thảm thiết
Mối bi thương nhốn nháo cười hoài
Hú dùm ta gọi nàng lồng lộng
Kìa hố riêng nhào tới té lăn


                                                                   Tâm


* Tác giả có vẻ như đã viết nhanh bài thơ này trên một mảnh giấy ghi vài lời 
" lưu ý " của một hãng thuộc da Italie.





















Tác phẩm đã xuất bản:















Liên, Đêm,  Mặt Trời Tìm Thấy 

(thơ. Sáng tạo. 1964)

http://www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do?action=viewArtwork&artworkId=4571 
















Khuôn Mặt 


(Tập truyện ngắn, nxb Sáng Tạo 1964)

http://motsach.info/story.php?story=khuon_mat__thanh_tam_tuyen&chapter=002
























Bếp Lửa 



(tiểu thuyết)
(nxb Nguyễn Đình Vượng. SG, 1957)

http://4phuong.net/ebook/69754562/bep-lua.html


















Dọc Đường 




(Tập truyện ngắn . 1966)



















Ba Chị Em 



(Kịch, 1967)
















Cát Lầy 


(tiểu thuyết. nxb Giao Điểm 1967)























Tiếng Động 

(tiểu thuyết. 1970)
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=13475&rb=0103




  



























Tạp Ghi 

(Phiếm luận, 1970)


















Thơ Ở Đâu Xa 


(thơ. Trầm Phục Khắc xuất bản. 1990 . Hoa Kỳ)
http://amvc.free.fr/Damvc/GioiThieu/ThanhTamTuyen/TTTuyen-amvc.htm






















Một Chủ Nhật Khác 

(tiểu thuyết . nxb Văn.  1975)



























(...)


-----------------------------------------------
trích một phần từ blog phan nguyên
-----------------------------------------------







0 Nhận xét:

Đăng nhận xét

Đăng ký Đăng Nhận xét [Atom]

<< Trang chủ