Thứ Hai, 26 tháng 12, 2011

RỐI MAI ĐÂY / một bài thơ của TẠ TỴ .

                                                    Rồi Mai Đây 
                                                       thơ Tạ Tỵ
                                                      ( toàn bài)

Lời dẫn:
Trong một bài  viết:Rồi Mai Đây / Một bài thơ của Tạ Tỵ  đăng trên website Newvietart.com / France-ngày 15.12.2009) - không  đủ , lại tưởng là đủ?!   Đọc lại   thi tập  Mây bay / Tạ Tỵ    xuất bản ở Huê Kỳ 1996,  được biết  trích đoạn  " Rồi mai đây" chỉ  để phổ nhạc ( dactrung.net/nhac/noidung.aspx?  >-  nên  tôi  đăng lại bài viết xưa kia  + toàn bài thơ  trên THANGPHAI GIO' S blog.
Thếphong.

        Vậy là Tạ Tỵ đã ra đi được hơn 5 năm ( tính đến năm 2009).   Anh qua đời, ở một căn nhà do tiền  nhuận bút cuốn MƯỜI KHUÔN MẶT VĂN NGHỆ HÔM NAY / Lá Bối xuất bản, Saigon 1972.   Trước khi qua đời, họa sĩ Phan Diên ở Mỹ về , cùng tôi đến bên giường bệnh  thăm anh nằm trên lầu hai.   Chẳng biết mắc bệnh gì, anh chăm sóc nói với chúng tôi, đại khái :"... bữa nay ông ấy nằm tô hô trên giường..." ( tô hô: không mặc quần  lót).
          Cũng nhờ nhà báo  Quốc Thái ( chàng  này nắm thông tin cực kỳ bén nhậy)  báo cho hay Tạ Tỵ bệnh về  Sagon rồi -  tôi đến bệnh viện gần khu vực Nhà Thờ Ngã 6 Chợ Lớn thăm .   Găp tôi, anh hỏi ngay" ai báo tin?" , rồi  mượn di động gọi ngay  cựu quản đốc  Đài Quân đội Nguyễn Quang Tuyến ( Văn Quang ) - đại khái báo tin đã về Sài gòn , đang nằm dưỡng bệnh.   Rồi tiếp,  còn cuốn truyện" Nửa Đường Đi Xuống"  và" Nhận diện vóc dáng Nguyễn Đức Quỳnh" thì đưa ngay ra tiệm photo- copy cho anh mỗi thứ 1 bản , cứ trả trước,  hoàn tiền  sau.
      Lại hỏi tiếp: Nghĩa Lộ thuộc tỉnh Yên Bái  ở chỗ nào?   Có gần nơi anh đi học tập cải tạo không ?   Lấy ngay một  cuốn " Mây bay" đã ký tặng  từ bao giờ đưa tôi  -  tôi đọc ở trang 3:
                   " Bản của Thế Phong và Nội tướng, với lòng nhớ thương vô hạn"- TẠ TỴ (  ký tên ) .
 "...trong tập thơ có in  bài thơ" Núi Rừng"   làm ở Yên Bái năm 1977, quê hương  cậu .   Đọc nghe luôn:

                                                                         Núi rừng

                                                            Ở đây những núi cùng rừng
                                                     Trời nghiêng lũng thấp nửa rừng mây che
                                                             Núi cao ngăn bước nẻo về
                                                       Rằng mê khép kín cơn mê cuối đời
                                                                Xa vắng qúa bạn bè ơi
                                                     Màu xanh khóa lấp chân trời nhớ thương
                                                               Lỡ tay đánh mất thiên đường
                                                     Xác chìm Địa Ngục còn vương dáng hồng
                                                             Xin đừng đợi cũng đứng mong
                                                       Hận thù khép kín môt vòng  thời gian
                                                                 Đầm đìa lệ, nến tuôn tràn
                                                         Đêm đêm hồn nhớ băng ngàn về xuôi "
                                                                            ( Yên Bái 1977)

      Những ngày cuối đời, Tạ Tỵ rất tỉnh táo, nét buồn của người biết mình sẽ hẳng còn sống được bao lâu nữa - chẳng  buồn cũng chẳng vui nhiều.   Kể chuyện những năm đi học tập cải tạo, với giọng nói bình thản, lên đến Nghĩa Lộ rồi ( Yên Bái - anh biết  nơi tôi sinh trưởng và lớn lên tại đó tới năm 18 tuổi.   -  và
điều này trước đó, chẳng bao giờ ngờ tới, là anh sẽ tới quê hương tôi.   Anh chẳng còn bực bội như lần đọc văn  của văn sĩ  Duyên Anh  :"...  đói quá Tạ Tỵ phải ăn vụng  cám heo ở bếp trại cải tạo..."  và Duyên Anh riễu rất độc :  "... Tạ Tỵ  ư ?  -  thì  tài  của Tỵ chỉ  vê được  một  cục  tí tẹo  -  rồi  phóng đại  thành một tạ - đó là  chân dung thực sự của TẠ TỴ  -   trong cuốn hồi ký xuất bản ở Paris.

       Từ Huê Kỳ viết thư cho tôi, anh hậm hực:" .. thằng này vào trại cải tạo rồi, làm ăng-ten, chửi cả nước, như khi nó còn viết ở báo" Sống".    Thực ra oan cho Duyên Anh, câu nói sỏ lá ba que ".. tài bằng một tỵ..." không phài  D.A sáng tạo ra,  mà chép lại ( không ghi chú) câu nói của Huy Sơn , thư ký tòa  soạn nguyệt san  quân đội dành riêng sĩ quan : Phụng Sự  - chẳng biết khi ấy tranh luận gì với trung úy Tạ Tỵ, chàng chuẩn úy đồng hóa kia   phang câu nói trên.   Trả lòi anh  Tạ Tỵ:

            ".... thằng Huy Sơn, nó nói câu này hay hơn cả sự nghiệp viết tiểu thuyết " Trước mồ trinh nữ"  &" Trường ca"  của nó  !   Anh chẳng cần phải bận tâm làm gì với 2 tên đó, nhất là  Duyên Anh'' - thì anh càng không thể tranh luận, bút chiến, bút chiêc gì  với nó được đâu, bời nó sẽ dùng mọi  lối văn  để" hạ nốc-ao"  địch thủ đấy!".

         Và tôi giải thích  :  nơi anh đi cải tạo không phài ở Làng Bữu đâu - ( tên trong sổ bộ là xã Thượng Bằng La,  Văn Chấn, Yên Bái, nơi có đèo Lũng Lô   - địa danh nổi tiếng trong  kháng chiến chống Pháp.   Phía đông sang Thu Cúc, huyện Thanh Sơn, tình Phú Thọ; phía tây là quốc lộ  37A nối tỉnh Yên Bái đến thị xả Nghĩa Lộ, phía nam  đèo Lũng Lô đi sang huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La ). -  đặc biệt  có núi Tè cao khoảng 1300 mét, so  mực nước biển, như lá chắn hình cánh cung ( thuộc dãy Fan Si Pan / Hoàng Liên Sơn hùng vĩ, chỉ cách nộng trại gia  đình chúng tôi ở Làng Bữu chừng 4, 5 km).   Nơi này là một địa điểm quân sự rất lợi hại, nó án ngữ 2 con đường huyết mạch về hướng tấy bắc và quốc lột 32 chạy qua phía đông, xuôi 160 km nữa là tới Hà Nội.  
          Chẳng biết  thi sĩ Tố Hữu có đến nơi này lần nào chưa,  trong  thơ ông, có nói đến Dốc Pha Đin*    Tôi còn nhớ 4 câu thơ Tố Hữu:    
                                     ...
                                       Dốc Pha Đin chị gánh anh thồ
                                       Đèo Lũng Lô anh hò chị hát
                                       Dù bom đạn xương tan thịt nát
                                       Không sờn lòng không tiếc tuổi xuân
                                    ......

         Tác giả này vốn hư cấu quá đà,  khi ông ta chưa tới Điện Biên  Phù, mà cứ  như đã tới, sáng tác thơ tả   mặt trận  Điện Biên, cứ như đang cùng chiến sĩ đẩy pháo lên đồi, cũng như chưa  hề  biết mặt ngang, mũi dọc thống soái Staline ra sao -  làm" vè"  cứ như thân  thích lắm, cháu  nội tụng ông nội  vậy ! ( .. thương Người thương một, thương Ông thương mười ...!) -  và, chẳng hề gặp mặt  anh Trỗi ( miền Nam phát âm TRỖI thành TRỔI) - làm thơ phong trào ca tụng Nguyễn văn Trỗi,  thì y như Tố Hữu đã  từng nằm úp cùi dìa cùng anh Trỗi  trong nhà tù ' Mỹ Ngụy Sài gòn'?!!!

                                                                      *
          Bữa anh  qua đời là ngày 24  /4/ 2004.   Con cháu ở Mỹ về đưa tang- ngày động quan  tôi  giữ ý dịnh  không có mặt.   Tính đến hôm nay , 15 .12.2009 là hơn 5 năm  4 tháng.    Có thể  tôi, người viêt chiêu niệm Tạ Tỵ chậm nhất.    Cũng có thể không, sau tôi, sẽ còn nhiều người nhớ Tạ Tỵ: " một bậc kỳ tài trong làng hội họa  Việtnam " - lời nhà văn nữ Trần Thị Bông Giấy xưng tụng.  Vào <google / search / tạ tỵ > hàng loạt trang  nói về họa sĩ tài danh, kỳ tài này.   Có một người nữ việt  sống ở Pháp từ nhỏ , lấy chồng ngoại, bà Loan de Frontbrune, hiện sưu tập  nhiều bức tranh Tạ Tỵ, và những tài danh khác : Tô Ngọc Vân, Nguyễn Phan Chánh, Lương Xuân Nhị, Lê Phổ ..v.v...Như bà kể lại, rất tình cờ chỉ phải trả 500 usd đã mua được một bức tranh Lê Phổ  - sau,  một bảo tàng  đòi  mua lại bằng lòng,  tự  trả  gấp 100 lần.   Bà  không tiết lộ,  có bán bức tranh ấy  hay không !

         Nhớ lại trước ngày liệm, có một cô bé khóc nhiều nhất,  con gái Thượng Sỹ- mắt đỏ hoe, sau cô bé tới nhà tôi lấy thêm tư liệu tiểu sử tác giả.   Có bé ấy sinh năm 1957, thứ nữ , nay viết báo, cô bé sinh ra đời được đặt tên qua bút hiệu Hàm Anh từ bố truyền lại.
          Tạ  văn Tỵ sinh năm 1921, khai sinh  ghi 1922, tốt nghiệp  khoá chót Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương.    Vào  Saigon từ 1952-53- anh bị động viên  vào Trường Sĩ quan Bộ binh Thủ Đức khóa 3, ra trường  được bổ nhiệm  về Phòng  Tổng tham mưu Quân đội Quốc gia Việtnam - Pháp cho đặt tại một biệt thự trên đường Trần Hưng Đạo ở Chợ Lớn.   Từng giữ chức Biệt đoàn trưởng Biệt đoàn văn nghệ  trung ương  , chức vụ cuối cùng: Tham mưu trưởng Cục Tâm lý chiến - cục trưởng :  đại tá Hoàng Ngọc Tiêu  -  dưới trướng có tới 6 phòng, quan trọng nhất Đài Tiếng nói Quân đội ,  trung tá Nguyễn Quang Tuyến  làm quản đốc.

        Dưới đây , bài  Rồi mai đây làm ở Trại Suối Máu ( Biên Hòa ) năm 1976 - cứ coi là  tác giả làm trước khi nhắm mắt xuôi tay- trí não   minh mẫn , tin rằng:  " nếu sau này qua đời thi chỉ còn" EM  bên mộ gọi hồn ta" - đối với Tạ Tỵ- thì chỉ  MỘT -  còn thi sĩ Đinh Hùng đa mang lụy tình bề bề , ao ước  HƠN MỘT EM -  mà đã chắc gì  ' hơn một em' ? :

                                       " Khi ta chết CÁC EM** về đây nhé !
                                                    thơ Đinh Hùng ) .


-------------------------------------------------------------------------------------------------------
*      đúng ra , phải gọi  là  PHẠ  ĐIN - tiếng Thái gọi Trời là PHẠ, đất là  ĐIN -  vì  ngọn núi rất cao, chân nằm  mặt đất ( ĐIN) ,  ngọn vút tận trời . ( PHẠ) .
**   chữ viết HOA của Biên tập.
      (TP chú thích)
----------------------------------------------------------------------------------------


                                                  RỒI MAI ĐÂY
                                                  tác giả: TẠ TỴ
                                                
                     Rồi mai đây, khi buông tay nhắm mắt
                     Giã biệt đời trở lại cuối trời quên
                     Không tưởng tiếc những gì ta đã mất
                     Vì trần gian đã tràn ngập ưu phiền

                     Rồi mai đây, ta trả về hơi thở
                     Thân xác này nằm lạnh dưới mồ sâu
                     Đất ôm kín nỗi niềm riêng chẳng  mở
                     Khép thời gian trong đáy huyệt nhiệm mầu.

                    Rồi mai đây, môi khô không cất tiếng
                    Nụ cười nào quyến rũ trái tim đơn
                    Tình đã mất sau màn tang vải liệm
                    Còn gì đâu mà thương xót tủi hờn ?...

                    Rồi mai đ6y, hồn lang thang khắp ngả
                    Bến bờ xa quạnh quẽ nẻo hư vô
                    Xuân chẳng đến với màu hoa sắc lá
                    Chỉ ánh trăng lạnh lẽo hắt trên mồ

                    Rồi mai đây, trầm tư cho thân phận
                    Với đêm dài bất tận cõi thiên thu
                    Thịt xương ấy vẫn đau và uất hận
                    Như còn vương khổ nhục kiếp lao tù

                    Rồi mai đây, chuông giáo đường không đổ
                    Đêm Giáng Sinh chẳng vọng tiếng kinh cầu
                    Xác khô héo nằm im trong lòng gỗ
                    Đợi chờ chi, sao hồn bỗng buốt đau ?...

                    Rồi mai đây, mái chùa xưa rêu phủ
                    Tiếng mõ khuya chìm lắng vũng trời xa
                    Sương buông nhẹ trên nẻo về lối cũ
                    Hồn bơ vơ như kẻ mất quê nhà

                    Rồi mai đây, bạn bè xa vắng hết
                    Lấy ai mà thương tiếc buổi chia ly
                    Đời tẻ ngắt, rã rời, bao mỏi mệt
                    Hồn chơi vơi theo tiếng hát sầu bi !...

                    Rồi mai đây nhân gian không còn nữa
                    Chỉ mình em chung thủy với tình ta
                    Mỗi buổi chiều đổ dáng vàng khuôn cửa
                    Em qùy bên mồ tối gọi hồn ta


                   Rồi mai đây, không còn gì nữa hết
                   Cõi sống này không còn thuộc về ta
                   Vì tất cả đều chìm theo cõi chết
                   Người, người ơi, dĩ vãng đã phai nhòa !...[]
                                    (  Suối Máu 1976 ).
 
                                         TẠ TỴ

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét